Chia sẻ kinh nghiệm du lịch các địa điểm Miền Trung như: Huế, Đà Nẵng, Hội An, Đà Lạt, Nha Trang...
Hình đại diện của người dùng
tuvandulich24
 
Bài viết: 1
Ngày tham gia: 12 Tháng 10 2012 15:15

Du lịch biển Hải Hoà_ Tham quan Thành Nhà Hồ

gửi bởi tuvandulich24 12 Tháng 10 2012 15:39

Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 150 km về phía Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh 1.560 km về hướng Bắc. Đây là một tỉnh lớn của Việt Nam, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính trực thuộc trung ương, cũng là một trong những địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt.
Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam trên nhiều phương diện. Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Tây Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ. Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nối dài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung Bộ, ngoài ra một phần nhỏ (phía bắc huyện Nga Sơn) thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Về khí hậu, Thanh Hóa vừa có kiểu khí hậu của miền Bắc lại vừa mang những hình thái khí hậu của miền Trung. Về ngôn ngữ, phần lớn người dân nói phương ngữ Thanh Hóa với vốn từ vựng khá giống từ vựng của phương ngữ Nghệ Tĩnh song âm vực lại khá gần với phương ngữ Bắc Bộ.
Chúng tôi có dịp về miền quê này vào tháng 10, đám cưới của 1 thành viên trong công ty. Trong tâm trạng háo hức mong chờ, chúng tôi ai nấy đều tập trung có mặt tại công ty vào luc 3h30 chiều. Sau 4h ôtô, cuối cùng chúng tôi cũng đã đặt chân tới Thanh Hoá.

Sau khi nghỉ ngơi, chúng tôi chuẩn bị ăn tối, để lại sau lưng những mệt nhọc của 1 hành trình dài, chúng tôi ngồi bên nhau- khoảnh khắc thoải mái vô tư nói chuyện , chúc mừng, hàn huyên, tâm sự của các thành viên trong công ty là giây phút mà chúng tôi sẽ ko bao giờ quên. CHúng tôi hát, nhảy hết mình để chia sẻ niềm vui tới cô dâu và chú rể...Dancing, singing and sharing...

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi dậy sớm để tận hưởng không khí miền quê với những chợ cóc, những món đồ đc bày biện rất bắt mắt...Chúng tôi đi bộ dọc con sông Mã , 1 buổi sáng tươi mát tại miền quê yên bình. Sau đó, đoàn chúng tôi ăn món mì thịt gà do đích thân nhà chủ mời, rất ngon và giản dị... đây là những khoảnh khắc ko bao giờ quên trong tâm trí của mỗi ng chúng tôi

9h30, đoàn nhà chú rể hoành tráng bước vào, chú rể cầm bó hoa trên tay miệng cười mắt long lanh hạnh phúc ^^. Hôn lễ ở nhà cô dâu diễn ra 1 cách ấm cúng, chúng tôi ai ai cũng cảm nhận đc niềm hanh phúc ...Đoàn xe chú rể tiếp tục lăn bánh di chuyển ra khách sạn Phù Đổng để chung vui cùng gia đình 2 bên.

Những điệu nhạc, những bài hát, những nụ cười và cả những jọt nước mắt hạnh phúc đc hoà lẫn vào nhau...Kháhc sạn Phù Đổng đc bài trí đẹp mắt, đội ngũ tiếp tân chuyên nghiệp, nhanh nhẹn , mâm cỗ đc bày ra trước mắt khiến chúng tôi đều cảm thấy đói bụng ^^. Bữa tiêcj diễn ra trong không khí ấm cúng hạnh phúc...

Sau khi kết thcú, đoàn chúng tôi khởi hành tiếp xuống biển Hải Hoà.
Thuộc xã Hải Hòa, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa; thuộc địa phận chủ yếu thôn Đông Hải và thôn Giang Sơn; trải dài từ núi Sổi đến núi Nồi khoảng 3 km.

Bãi biển Hải Hòa còn hoang sơ, có bãi tắm đẹp, rộng và bằng phẳng, cát trắng mịn, nước trong xanh, sóng vỗ hiền hòa.

Bãi biển nhìn ra Biển Đông, phía xa là đảo Hòn Mê. Phía Nam bãi biển là núi Sổi và núi Chay.
Bờ cát trắng chạy dài 20 km về hướng Bắc cho đến tận xã Hải Ninh, chỗ nào cũng có thể tắm được.

Phía Tây của bãi biển là Quốc lộ 1A (km 366), cách 3 km.

Bãi tắm ở Hải Hòa đẹp hơn ở Sầm Sơn, Đồ Sơn và Bãi Cháy; môi trường ở đây chưa bị ô nhiễm; người dân chất phát và hiền lành.

Hiện nay ở bãi biển Hải Hòa mới xây dựng được 3 khách sạn: Khách sạn Xanh Hà ACB, Khách sạn Đại Dương, Khách sạn Cao Nguyễn.

đoàn chúng tôi ở khách sạn Đại dương. Sau khi chek in, chúng tôi nhận phòng và nghỉ ngơi đến 2h chiều sau đó cả đoàn phi ra biển ^^. Chúng tôi mang theo bóng để chơi bóng truyền nhưng gió to nên chuyển qua đá bóng trên biển ^^. Chúgn tôi chia lam 2 đội, jọng nói, tiếng cười, hoà lẫn cùng vị mặn mòi của vùng biển làm cho tinh thần ai cũng phấn chấn....

" Trận đấu" diễn ra vui vẻ, tràn ngập tiếng cười , những tấm ảnh vui vẻ, phóng khoáng đc tác nghiệp ngay trên bãi biển, không khí vui vẻ khi Mr Sếp ngỏ í muốn nhảy điệu Gangnam style đang nổi đình đám trên mạng. Cả đoàn, mỗi người 1 style nhưng cứ gọi chung là Gangnam style nhảy vui vẻ trên bãi biển...Lâu lắm mới có dịp đc cười thả ga trước biển, jòn tan ...^^

Điệu nhảy và màn đá bóng kết thúc lúc 5h, sau đó đoàn chúng tôi trởe về khách sạn Đại dương, tắm táp nghỉ ngơi và đi ăn tối. Bữa tối đc book tại Nhà Hàng Liên Trường, cách ks Đại dương 30m. Hải Sản, tôm co ghẹ đc bày ra, chúng tôi ăn uống trong tiếng sóng biển rì rào, trong tiếng gió biển hát ca..>Tất cả hoà vào không khí thân thiện, cười đùa, cởi mở, những tâm sự của đồng nghiệp...Khoảnh khắc ko bao giờ quên ^^

Sau khi ăn tối, chúng tôi cả đoàn đi dọc con đường có hàng phi lao rì rào, không khí bình yên lamf chúng tôi thấy thoải mái, yêu đời hơn bao h hết...Buổi tối ở vùng biển kết thúc lúc 10h, cả đoàn lại trở về ks Đại dương . Phòng của cả đoàn nằm ra hướng biển, mát mẻ, dễ chịu làm chúng tôi ngủ rất ngon...

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi thức dậy từ sớm để đi tắm biển. Không khí buổi sáng trong lành, người dân thân thiện làm chúng tôi rất thoải mái ...Bữa sáng đc chuẩn bị đơn giản mà ngon miệng: cháo trai. Những con trai tươi sống đc chế biến cùng với gạo trắng làm cho món ăn thơm béo, chúgn tôi vừa ăn vừa xuýt xoa khen ngon...Sau đó chúng tôi khởi hành đi thăm Thành Nhà Hồ. Thành Nhà Hồ thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 150km.
Đặc điểm: Thành do Hồ Quý Ly xây dựng vào năm 1397 bằng những khối đá xanh rất lớn và kiên cố.

Thành nhà Hồ hay còn được gọi là thành Tây Ðô.
Thành được xây dựng vào năm 1397 thời nhà Hồ. Thành có hình vuông, mỗi cạnh dài gần 500m, được xây bằng đá xanh cao khoảng 4,2m. Thành có 4 cửa. Cửa phía Nam rất giống cửa phía Nam thành Thăng Long. Quanh thành có hào sâu, phía trong thành là cung điện uy nghi lộng lẫy. Từ cửa Nam xây đường lát đá thẳng đến đàn Nam Giao ở Ðốn Sơn.
Sau khi xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời triều từ Thăng Long về Tây Ðô. Nhưng nhà Hồ đã tồn tại được 7 năm (1400-1406).
Trải qua hơn 6 thế kỷ cho đến nay toà thành còn lại cửa phía Nam với 3 cổng vòm cuốn bằng đá xanh. Khung tường thành còn lại là những bức tường bằng đất.

Aau khi thăm, chúng tôi ăn trưa tại 1 nhà Hàng cách 1 km, Bữa trưa đơn giản mà ngon miẹng bao gồm các món ăn như canh cua, cà ghém, ếch xào cà... Trời nắng làm 1 số thành viên hơi bị mêt nhưng khi ăn xong thì có vẻ như cái mệt đã tiêu tam. Chúng tôi lại tiếp tục cuộc hành trành thăm Hang cá Cẩm Lương

Hang cá Cẩm Lương thuộc xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa tỉnh Thanh Hóa, cách thành phố Thanh Hóa gần 80km.
Đặc điểm: Ở đây có đàn cá đông tới hàng ngàn con bơi lội tung tăng dưới lòng suối. Người dân địa phương coi đây là đàn cá “thần”, không bao giờ đánh bắt mà luôn tự nguyện bảo vệ đàn cá với mong ước thần linh ban cho mưa thuận gió hòa.

Trải qua đoạn đường dài gần 80km từ thành phố Thanh Hóa đến huyện Cẩm Thủy, một con đò sẽ đưa du khách sang tả ngạn sông Mã để đến thăm hang cá Cẩm Lương (hay còn gọi là suối Cá "thần"), một trong những thắng cảnh thiên nhiên có vẻ đẹp độc đáo của vùng đất xứ Thanh.
Hang cá là một hồ nước thật rộng lớn nằm trong lòng dãy núi Trường Sinh. Ðàn cá "thần" đông hàng ngàn con, tung tăng bơi lội dưới suối đổ dồn về phía bờ như để chào đón du khách đến thăm. Cá "thần" trông thật đẹp mắt, da cá óng mượt sắc vàng lẫn đen như khoác lên mình một lớp gấm quý; vây và môi cá hồng tươi rực rỡ, mỗi con nặng khoảng 20kg. Cá "thần" loại lớn chỉ ra khỏi hang vào những ngày nước lên. Cá sinh sản ở trong hang, cá con lớn đến tầm 2kg thì theo đường cửa hang bơi ra suối Ngọc. Ðàn cá chỉ bơi lội ở suối Ngọc chứ không mấy khi bơi ra khỏi ngã ba suối, nơi có đền thờ Tứ phủ Long vương.

Từ đầu nguồn, theo con đường lên dãy núi Trường Sinh rợp bóng cây đăng, du khách sẽ đến cửa động Ðăng ở độ cao 70m so với mặt đất. Bước vào động, những thạch nhũ đa sắc màu, lấp lánh như kim cương từ vách động, vòm động rủ xuống, mang đến cho du khách bức tranh bồng lai tiên cảnh tuyệt mỹ. Ðộng Ðăng cao ráo, thoáng mát, ngước mắt nhìn lên vòm động, có cảm giác đang đứng dưới một bầu trời đầy sao của đêm hè mát rượi. Lòng động mênh mông sâu thẳm như không có điểm tận cùng. Tiếng róc rách của con suối nhỏ nép mình bên vách động chợt thu hút sự chú ý của du khách. Ðó là khởi nguồn của dòng nước trong hang cá Cẩm Lương.
Ðến thăm hang cá, du khách đều có chung một câu hỏi: Vì sao lại gọi là cá "thần"? Truyền thuyết của người Mường kể rằng: xưa có hai vợ chồng hiếm muộn hàng ngày thường ra thửa ruộng bên suối để trồng trọt và bắt tôm cá ở suối làm thức ăn. Một hôm bà lão ra suối và vớt được một quả trứng lạ. Bà thả xuống nước rồi tiếp tục mò cua, bắt cá nhưng vẫn chỉ mò được quả trứng đó. Bà mang về nhà và ông bà bàn nhau cho gà ấp thử. Ít hôm sau, quả trứng đã nở ra một con rắn. Ông lão mang rắn ra thả ở suối Ngọc, nhưng cứ thả thì đến tối rắn lại về nhà. Lâu dần, rắn sống trong nhà thân quen như những con vật khác. Từ khi có rắn trong nhà, đồng ruộng không còn hạn hán, đời sống trong vùng thái bình, ấm no và hạnh phúc. Rắn được nhân dân trong làng tôn kính và gọi là chàng Rắn. Bỗng một đêm trời mưa to gió lớn, sấm chớp ầm ầm. Sáng hôm sau, dân làng thấy xác chàng Rắn dưới chân núi Trường Sinh, bên bờ suối Ngọc. Dân làng được thần linh cho biết: chàng chết vì đánh thủy quái về phá hoại bản làng nên đã được Ngọc Hoàng phong Thần và chức Tứ phủ Long vương. Nhân dân lập đền Ngọc bên bờ suối để tưởng nhớ công lao của Tứ phủ Long vương. Cũng từ đó, suối Ngọc trước cửa đền có đàn cá "thần" hàng ngàn con ngày đêm về chầu thần và canh gác nơi đền Ngọc. Hàng năm, vào ngày tế lễ Tứ phủ Long vương, ông từ làm lễ xin thần và chờ khi chiều xuống, đàn cá vào hang, con nào còn sót lại ở suối nghĩa là tự dâng mình làm lễ hiến sinh. Già làng mang cá ra đền cúng tiến thần linh rồi mời các cụ trong làng cùng hưởng. Lệ làng đến nay vẫn duy trì, do đó, đàn cá ở suối Ngọc không bao giờ vơi, mỗi ngày đông hơn và to ra. Bảo vệ đàn cá "thần" là việc làm tự nguyện trong tâm thức của bà con bản Mường nơi đây, với ước muốn thần linh ban cho mưa thuận gió hòa, đồng ruộng tốt tươi.

Đền Độc Cước tọa lạc trên đỉnh núi mang tên hòn Cổ Giải thuộc dãy núi Trường Lệ ở thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, ngay cạnh bãi tắm Sầm Sơn.
Đặc điểm: Đền mang tên Độc Cước (nghĩa là một chân), gắn liền với sự tích chàng trai khổng lồ đã tự xé đôi thân mình để vừa đánh giặc quỉ biển ngoài khơi và đánh giặc trong đất liền cứu dân làng.

Tưởng nhớ công ơn của chàng, người dân Sầm Sơn đã lập đền thờ chàng ngay bên tảng đá có vết lõm dấu chân khổng lồ tương truyền là bàn chân của chàng và sau này là đền Độc Cước.
Muốn lên đền phải qua 40 bậc đá. Đền được lập từ đời Trần (1225-1400), dựng lại vào thời Lê và đã qua trùng tu nhiều lần. Phía sau đền có Môn Lâu dựng năm 1863 bằng gỗ. Trong đền có tượng thần Độc Cước bằng gỗ chỉ có một tay, một chân. Chân tượng dựng vững chắc trên hòn đá tảng, tay tượng có cây búa ở tư thế đang vung về phía sau chiến đấu với loài quỷ biển. Đền có hai pho tượng ngựa đúc bằng đồng, cặp tượng phỗng tạc bằng đá khối, nhiều câu đối chữ nho ca ngợi công đức của thần Độc Cước.
Độc Cước không chỉ là một ngôi đền đẹp mà còn là một di tích của Sầm Sơn. Đền rất hấp dẫn đối với du khách trong nước và nước ngoài khi đến tắm mát, nghỉ ngơi ở Sầm Sơn.

Đoàn chúng tôi kết thúc hành trình quay về Ha Nọi. Dù ai cũng mệt nhưng vẫn vui vẻ hát hò treê đường về. Tiếng hát át cái mệt, chúng tôi háit vang cả con đường mòn Hồ CHí Minh...Xe bon bon chạy, tiếng hát vẫn véo von xua tan mệt mỏi...Sau 4h , chúgn tôi có măt r Hà Nội. Chia tay nhau về nhà, kết thúc chuyến đi tốt đẹp, vui vẻ, sẻ chia và yêu đời hơn

Thanh Hoá, hẹn 1 ngày gặp lại ko xa ^^

Công ty Du Lịch Dina Tour chuyên tổ chức các tour du lịch trong và ngoài nước cho các tổ chức cá nhân. Tour du lịch cho người cao tuổi, tour du lịch trăng mật, tour du lịch sinh thái, tour leo núi, tour chèo thuyền và tham quan rừng quốc gia. Tour du lịch mô tô cho những người yêu thích thám hiểm và các tour du lịch mạo hiểm khác.
Hình đại diện của người dùng
congtyvn1309
 
Bài viết: 1
Ngày tham gia: 15 Tháng 10 2012 14:41

Nón ngựa Phú Gia (Bình Định): Sản phẩm du lịch làng nghề

gửi bởi congtyvn1309 15 Tháng 10 2012 14:56

Trong 26 làng nghề được công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định thì làng nghề nón chiếm một vị trí khá quan trọng. Từ lâu, người dân Bình Định rất tự hào về hình ảnh chiếc nón ngựa nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc. Xét trên bình diện lịch sử, từ thời Quang Trung, nón đã gắn liền với đội quân thần tốc Tây Sơn.

Hình ảnh

Trải qua bao thăng trầm của thời gian, chiếc nón không chỉ dùng để đội đầu che mưa, che nắng mà còn là món hàng thủ công mỹ nghệ độc đáo, dùng cho giới quan lại, chức sắc và mang đậm bản sắc văn hóa Bình Định. Để minh chứng cho sức sống kỳ diệu đó, hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều làng nghề nón có tên tuổi như làng nón lá Thuận Hạnh (huyện Tây Sơn), làng nón Thuận Đức, làng nón Tân Đức, làng nón Châu Thành, làng nón Phú Thành (huyện An Nhơn), làng nón Kiều An, làng nón Kiều Huyên (huyện Phù Cát)… Đặc biệt, nghề nón ngựa Phú Gia, xã Cát Tường, huyện Phù Cát là một trong 5 làng nghề truyền thống được UBND tỉnh quy hoạch, gắn với phục vụ phát triển du lịch.

Tên gọi nón ngựa, bản thân nó đã nói lên cái riêng biệt, vừa dẻo dai bền bỉ vừa dùng để đội khi cưỡi ngựa. Ngày xưa, nón chỉ dành riêng cho giới phong lưu, đài các. Đặt biệt những chiếc nón ngựa bịt bạc, chạm trổ hình rồng phượng trên đỉnh nón chỉ được dùng cho giới quan lại, địa chủ, còn thường dân thì dùng nón lá buôn, nón chỉ lát. Hình ảnh các lý trưởng, chánh tổng ngồi trên lưng ngựa, đội nón ngựa bịt bạc trên các nẻo đường làng đã trở thành ký ức ở các làng quê Bình Định trước những năm 1945.

Ngoài Phú Gia, những thôn lân cận của xã Cát Tường như Kiều Đông, Xuân Quang cũng làm nghề chằm nón, tuy nhiên tập trung nhiều nhất vẫn là ở Phú Gia. Nghề chằm nón gắn bó mật thiết với quá trình lập làng Phú Gia, do đó đa phần những nghệ nhân làm nón ở Phú Gia đều có tâm huyết với nghề truyền thống quê mình. Có những nghệ nhân đã bước sang tuổi 80 nhưng hàng ngày vẫn gắn bó với công việc chằm nón như cụ Đoàn Thị Đâu, Đỗ Thị Nga…, chính họ là những nghệ nhân trụ cột truyền nghề cho các thế hệ con cháu mai sau.

Để làm được một chiếc nón ngựa truyền thống thì phải cần đến những nguyên liệu đặc biệt và sự khéo léo, kiên nhẫn của người thợ. Ngày nay nón ngựa truyền thống ít được các nghệ nhân chế tác với số lượng nhiều do tốn nhiều công sức nhưng sản phẩm khó tiêu dùng, hiệu quả kinh tế không cao. Do vậy, dù nghề làm nón ngựa ở đây vẫn được duy trì nhưng những chiếc nón đẹp và sắc sảo như thế cách đây vài chục năm ngày càng hiếm. Phần lớn bà con làm nón ngựa Phú Gia ngày nay đã cách tân chiếc nón ngựa thành một sản phẩm dễ làm, ít tốn thời gian, nguyên vật liệu dễ tìm hơn nhằm phục vụ được đại đa số bà con nhân dân lao động. Người thợ chỉ giữ lại những công đoạn chính trong quy trình làm nón ngựa truyền thống, một số nguyên liệu làm nón cũng được thay đổi để phù hợp với xu hướng thị trường.

Để làm được một chiếc nón ngựa, các nghệ nhân cần chuẩn bị một số nguyên liệu và dụng cụ cần thiết. Trước hết là chọn lá kè, hay còn gọi là lá cọ. Lá không quá già cũng không được quá non. Lá tươi phải được phơi nhiều nắng và sấy khô. Ngoài việc phơi nắng, người làm nón phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn. Thứ hai là chọn giang tươi để làm sườn. Người chằm nón thường lên tận nguồn An Tượng (An Nhơn, Tây Sơn) để chặt cây giang đem về chẻ ra từng miếng cật dày hoặc mua tại chợ Nón Gò Găng. Cật giang được nạo sạch vỏ, phơi khô và chẻ ra thành cây tăm thật nhỏ và đều. Thứ ba là cây dứa (thơm tàu, hùm), người dùng tước lấy phần tơ ngâm nước vài ba ngày cho nát phần thịt của lá, dùng bàn chải, chải lấy phần tơ, phơi khô dùng làm chỉ để chằm nón, (ngày nay thay vì dùng chỉ tàu thơm, người ta dùng cước nhỏ bằng nylon, chằm nón có đường nét thanh nhã hơn). Tiếp theo là rễ dứa rừng, chẻ thẻ, phơi khô và chuốt tròn đều dùng để làm sòi và làm vành. Ngoài ra, nghệ nhân còn chuẩn bị chỉ màu để thêu hoa văn trên nón. Vải nhung hay vải the để làm quai nón. Điều đặc biệt là để tăng tuổi thọ cho nón, người làm nón thường chọn các nguyên liệu như giang, rễ dứa rừng, lá kè được lấy vào đúng mùa của nó, tức cuối đông đầu xuân thì hiệu quả sử dụng nón sẽ bền hơn.

Nếu như quê hương Quan họ Bắc Ninh có nón quai thao, nón bài thơ là đặc sản của xứ Huế, thì người Bình Định tự hào với chiếc nón ngựa Phú Gia. Nón ngựa trông đẹp và cầu kỳ, lắm công phu, trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ. Trước đây nghề làm nón chưa được chuyên môn hóa như bây giờ cho nên để chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời dày công nhọc sức. Vì vậy giá thành rất cao, nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quý, những chức sắc quan lại ở địa phương. Dần dần theo nhu cầu của giới bình dân, nón ngựa được cải biên thành nón chuông, nón trủm giản lược bớt một số công đoạn. Các loại này đều không có chụp bạc, nó được thay bằng những tua ngũ sắc trên chóp nón. Ở Phú Gia, ngày cưới nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể đội nón đi ngựa; còn những nhà nghèo cũng ráng sắm vài đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày trọng đại này.

Muốn có một chiếc nón ngựa truyền thống, ngoài việc chuẩn bị nguyên vật liệu, người làm nón thường phải trải qua mười công đoạn. Trong mỗi công đoạn cũng được chia thành rất nhiều khâu nhỏ mà dường như khâu nào cũng quan trọng để tạo nên một sản phẩm đạt giá trị thẩm mỹ cao, thu hút người tiêu dùng.

Sau khi đã có nguyên vật liệu làm nón, người thợ bắt tay vào việc đầu tiên đó là đan sườn mê (đan mê, làm mê). Nguyên liệu làm mê chủ yếu là cây giang tươi, chẻ thẻ, phơi khô, ngâm vào nước cho thấm mềm sau đó tước nhỏ thành sợi mỏng như sợi cước. Cách thức đan theo kiểu đan giỏ, các lỗ nan có hình lục giác tạo thành một miếng mê lớn. Muốn có một tấm mê khéo, người làm nón phải biết giữ các nan theo một khoảng cách nhất định để các lỗ nan đều nhau.

Hoàn thành công đoạn đan mê, người thợ thực hiện rập luôn sườn, thắt nan sườn. Đối với nón ngựa lớn, khuôn nón mẫu có đường kính gần 50 phân, độ xiên góc nón chừng 120 độ. Nhìn chung 2 công đoạn làm mê và thắt nan sườn phải do những người thợ chuyên nghiệp thực hiện. Công đoạn tiếp theo là dọn vành, tỉa chóp, thắt chóp. Dọn vành hay còn gọi là vào vành, kết vành vào nón. Tiếp đến, người nghệ nhân dùng chỉ ngũ sắc bắt đầu việc thêu hoa văn lên sườn nón, với những mẫu hoa văn có sẵn như: Long lân quy phụng, Lưỡng long tranh châu, Mai lan trúc cúc, bài thơ, câu đối hoặc những cảnh vật, hoa lá… Ngày xưa với những người có chức sắc khác nhau thì các mẫu họa tiết sẽ được thêu khác nhau. Trông vào đó mà ta có thể biết được phẩm hàm của từng quan lại trong địa phương. Với những mẫu hoa văn như Long, lân, quy, phụng thể hiện quyền uy trong thời đại phong kiến, đặc biệt giới phong lưu thường chuộng mẫu Mai, lan, trúc, cúc vì nó là biểu tượng của sự thanh tao, đài các, thể hiện được sự luân chuyển của thời tiết bốn mùa… Cũng chính nhờ có những mẫu họa tiết này mà khi đội trên đầu, nón ngựa Phú Gia vừa có nét cao sang quý phái, vừa được sự trang nhã, mềm mại. Đó cũng là một trong những nét đặc trưng của nón ngựa Phú Gia. Công đoạn kế tiếp là can ốc (xoáy ốc) cho nón. Can ốc được kết thành hình chóp nhỏ, có chiều cao từ 3 đến 4 cm và đường kính từ 4 đến 5 cm. Can ốc được đặt bên ngoài và kết vào sườn nón. Nón đã được đặt can ốc, tiếp đến công đoạn bủa lá. Lá kè sau khi rọc với một kích thước nhất định, một đầu dùng kim chỉ xuyên qua từng miếng lá, đầu còn lại xòa ra theo hình rẽ quạt, lá này cách lá kia 2 ly hẹp dần về phía đỉnh, phủ đều từ gần chóp đến hết nang sườn cuối cùng, bủa lại quay quanh chóp nón (bủa hàng đầu), sau đó trải đều xung quanh mặt nón và dùng chỉ khâu định vị tạm thời quanh chân nón (bủa hàng chân). Bủa lá xong sẽ bắt đầu công đoạn chằm thành phẩm. Công đoạn này tưởng như đơn giản hơn cả nên các em nhỏ 10 tuổi đã có thể làm được và làm rất thành thạo. Tuy nhiên để có một chiếc nón đẹp, việc chằm nón cần phải chú ý đến từng đường kim mũi chỉ phải thật khéo để lá kết chằm vào sườn không bị nghinh, bị lật mà trông nón vẫn thanh. Bởi thế mà người xưa mới có câu:

Ai về Bình Định ba ngày
Dặn mua chiếc nón lá dày không mua


Chằm nón là kết nón vào sườn mê. Yêu cầu chằm từng mũi nhỏ li ti. Tính từ dưới lên trên chóp trước đây thường phải đủ 30 đường chằm. Vì chỉ chằm nằm dưới mí lá nên nhìn bên ngoài không thấy đường chằm. Mối chỉ ở lá đầu được lá thứ hai che và cứ thế cho đến dải lá cuối cùng. Người chằm kỹ tính, trước khi lợp lá phải tết một lớp lưới sườn toàn bằng cước thơm tàu. Sau khi hoàn tất công đoạn này, cầm chiếc nón nhìn kỹ vẫn không tìm ra mối chỉ. Công đoạn cuối cùng trong quy trình làm nón bao gồm các khâu nức nón, mạn tròng, kết sòi, lặt mối. Nón sau khi đã được lợp lá chằm chỉ sẽ được nức nón (nức vành). Nức vành thực sự là công đoạn kết hai vành còn lại vào bên ngoài lá nón, vành nhỏ nằm bên trên và lọt giữa vào khoảng trong của vành lớn với mặt ngoài của nón. Cả hai đều được cố định với vành cuối cùng phía bên trong nón. Với vị trí này, vành được nức vừa giữ được lá nón vừa tăng khả năng chịu lực cho nón. Để làm tròng nón ở phía trên chúm nón, người thợ dùng một miếng lá có đủ độ rộng, phía trên là một miếng vải màu, sau đặt một vòng tròn nhỏ uốn cong bằng sợi giang có đường kính từ 2 đến 2,5 cm, dùng chỉ màu khâu cố định giữa chúng lại với nhau bằng những mẫu hình khối, cắt lấy tròng nón đặt vào vị trí phía trên chúm nón. Sòi nón được làm từ rễ dứa rừng, chuốt láng với nhiều kích cỡ, màu sắc khác nhau (lớn hơn sợi tăm một chút), gồm khoảng 15 vòng được kết vào bên trong chóp nón, chúng đan sít vào nhau và nhỏ dần cho đến đỉnh nón. Người làm vành, làm sòi phải có tay nghề cao mới chuốt và giấu được mối chắp của chiếc vành, chiếc sòi. Ngày trước để tăng độ thẩm mỹ, người làm nón thường ngâm vành và sòi vào nước nghệ tươi để có màu vàng tăng tính thẩm mỹ cho chiếc nón. Bây giờ có thể thay thế bằng dung dịch phẩm màu, do đó những cây sòi, cây vành có màu sắc trông bắt mắt.

Đến đây việc làm một chiếc nón ngựa đã hoàn tất, tuy nhiên khi đến tay người sử dụng, người làm nón không quên kết quai vào nón để giữ nón khi đội trên đầu. Quai nón to và dày, bằng vải nhung hay vải the. Cách buột quai nón ngựa cũng khác với cách buột quai của các loại nón khác, người dùng nón ngựa Phú Gia thường dùng dải nón dài độ 1,2 mét, buộc cố định ở hai quai và thắt một lần ở dưới cằm, phần thừa tòng teng như đeo cà vạt, nhằm dễ điều chỉnh quai, nhất là khi đi ngựa.

Ngày xưa, từ xã trưởng trở lên mới có chụp bằng đồng hay bạc chạm trổ theo phẩm trật. Trên đỉnh là núm hình quả trám nhọn hoắt. Trông thầy Chánh, cụ Lý cưỡi ngựa đội nón chụp bạc thật là oai. Dân làng ngại cái uy của các thầy nên mới có bài đồng dao hóm hỉnh:

Thầy Chánh, nón chụp bạc, áo tam gian
Cưỡi ngựa qua làng con gái chạy te…


Ngày nay chóp nón để trần, trên đỉnh có một chùm chỉ ngũ sắc phất phơ như bông hoa. Nón sẽ được gia công thêm nếu khách có yêu cầu như để mặt lá nón được láng bóng, không bị thấm nước qua các lỗ kim khi trời mưa, người làm nón quét lên đó một lớp mỏng sơn dầu trong suốt, hoặc bọc nhựa nón sẽ bền và trông đẹp hơn.

Tùy vào chất lượng mà nón ngựa Phú Gia ngày nay có giá dao động từ 50.000 – 80.000 đồng/chiếc, nón làm theo nguyên mẫu truyền thống có giá 300.000 – 400.000 đồng/chiếc. Chiếc nón ngựa có chụp bạc trước đây có thể sử dụng 5 - 10 năm, còn nón thông thường có thể sử dụng từ 1 - 2 năm. Nón ngựa không chỉ có giá trị về mỹ thuật, là di sản văn hóa, là một trong những sản phẩm đặc trưng của văn hóa trang phục Bình Định, nhất là đối với cô dâu trong ngày cưới. Nón ngựa còn mang lại hiệu quả kinh tế cho làng nghề truyền thống. Nhiều phụ nữ nước ngoài đã tìm mua nón ngựa Phú Gia để sử dụng. Nón ngựa theo chân khách du lịch như một tác phẩm nghệ thuật độc đáo.
Hình đại diện của người dùng
thegioidulich
 
Bài viết: 5
Ngày tham gia: 28 Tháng 8 2012 15:41

Re: Nón ngựa Phú Gia (Bình Định): Sản phẩm du lịch làng nghề

gửi bởi thegioidulich 16 Tháng 10 2012 10:36

Uh đép quá
Hình đại diện của người dùng
kenguide
 
Bài viết: 19
Ngày tham gia: 08 Tháng 10 2012 15:31

Re: Du lịch biển Hải Hoà_ Tham quan Thành Nhà Hồ

gửi bởi kenguide 18 Tháng 10 2012 11:53

Mình thấy dịch vụ du lịch tại khu thành Nhà Hồ cần nâng cấp. Ít thứ để trải nghiệm quá
Hình đại diện của người dùng
thegioidulich
 
Bài viết: 5
Ngày tham gia: 28 Tháng 8 2012 15:41

Khám phá cao nguyên Lang Bian

gửi bởi thegioidulich 27 Tháng 11 2012 09:20

Cách thành phố Đà Lạt khoảng 15 cây số, khu du lich sinh thái Núi Voi – Đá Tiên là một chốn thiên đường, không giống bất cứ khu du lich nào của thành phố mù sương này.

Con đường từ đèo Prenn ngang qua thiền viện Trúc Lâm rồi vào Đá Tiên chạy vòng quanh hồ Tuyền Lâm thơ mộng. Theo con đường vòng quanh chân núi tráng nhựa phẳng lì, chẳng mấy chốc bạn đã bước vào Đá Tiên thơ mộng. Tên gọi Đá Tiên xuất phát từ hiện tượng hai hòn đá trên núi nơi đây có hình dáng hai ông tiên ngồi đánh cờ. Rừng thông nguyên sinh cao vút, xanh ngắt phủ trùm cả khoảng không gian triền núi, bên dưới là những bãi cỏ xanh tươi, điểm lấm tấm những kỳ hoa dị thảo khoe muôn ngàn màu sắc.

Bạn có thể xuống một chiếc xuồng máy hay một chiếc xuồng chèo để du ngoạn mặt hồ bao la sương khói vào buổi chiều tà. Lênh đênh sông hồ xong, lên bờ, ngồi buông câu (khoảng 30.000 đồng/cần và mồi) bắt mấy chú cá làm mồi nhắm vào buổi chiều tối. Với chú voi (khoảng 300.000 đồng/giờ/khách), bạn sẽ ngồi trên lưng nó, lắc lư khám phá rừng thông bao la bên sườn núi.


Trở về, tay vịn vào núm vú gỗ trên đầu chiếc thang lớn trước khi đặt chân lên sàn nhà cất theo kiểu nhà dài của đồng bào Ê đê. Bên trong nhà, trên chiếc bàn dài đã dọn sẵn nhiều món ăn thực hiện theo tập tục sinh hoạt của đồng bào dân tộc là những món nướng. Bạn còn làm ấm bụng bằng món cháo cá vừa câu. Ngồi vào ghế, vừa nhẩn nha nhai món ngon bạn vừa thưởng thức điệu múa cồng chiêng truyền thống của người Tây nguyên (từ 2 - 3 triệu đồng/suất diễn). Gần chục nam nữ người K’Ho vừa múa vừa hát theo tiếng cồng chiêng rền rĩ âm vang vòng quanh đống lửa cháy đỏ rực (mùa nắng múa ngoài trời). Đầu tiên là điệu múa Cầu Giàng, tiếp theo là những tiết mục diễn tả các lễ hội mùa xuân, hội buôn làng, lễ đâm trâu…, thể hiện cuộc sống và phong tục tập quán của người dân tộc Tây nguyên.

Tiếng hát triền miên như ru ngủ người miền xuôi thành phố với những âm từ xao xuyến trái tim: Ê hê… Ngôi sao thức giấc là mặt trời đi ngủ. Hết mùa mưa lũ là mùa nắng khô. Nắng vàng râu ngô là Tây nguyên thiếu nữ … Này người yêu ơi, em không biết múa, em không biết hát, chỉ biết yêu anh mà thôi. Ê hê… Em không biết múa cho môi anh thổi kèn. Em không biết hát cho đôi tay anh đàn… (Lời bài hát Kră yẵn jẹ mi na).

Bạn sẽ càng say hơn khi được các sơn nữ K’Ho mời cùng múa với họ. Theo nhịp cồng chiêng, theo nhịp tay nắm mềm mại của các nàng, bạn nhịp nhàng chân bước. Với ché rượu cần đặt gần đống lửa, bạn nhấp một chút, nghe hương rượu thơm nóng cay nồng lan khắp thân mình. Sảng khoái và hưng phấn để uyển chuyển múa tiếp…

Đêm xuống lúc nào không hay. Đống lửa tàn. Tiếng ca tiếng hát tắt theo tiếng cồng chiêng như êm ngủ. Theo xe, bạn rời Đá Tiên mờ mịt sương khuya, lạnh ấm, trở quanh hồ Tuyền Lâm, chạy vài cây số là tới khu Núi Voi. Tới nơi, cũng là lúc trăng lên. Giữa chốn núi rừng mù mịt sương phủ, bạn mới thấy được nét đẹp mơ hồ trong bài thơ Đà Lạt trăng mờ của thi sĩ Hàn Mặc Tử.

Nhưng, bất ngờ nhất là khách du lich được đưa lên giữa lưng chừng cây cổ thụ, cao từ 6 tới 10 thước, để nghỉ qua đêm trong một chòi lá vừa đủ chỗ cho hai người. Trải nghiệm cảm giác hoang dã của một chốn núi rừng nhưng bạn được đáp ứng đầy đủ tiện nghi của một phòng khách sạn cao cấp, với nhà tắm, toillet hiện đại. Nằm trong căn phòng được gọi là lồng chim đó, bạn sẽ nghe tiếng gió lùa không ngớt qua những tán thông rừng nguyên sinh bao la tấu khúc nhạc trời muôn thuở. Ngủ một
Hình đại diện của người dùng
coffeduong
 
Bài viết: 13
Ngày tham gia: 11 Tháng 10 2012 10:28

Lên cao nguyên Lang Bian ngủ trên cây

gửi bởi coffeduong 27 Tháng 11 2012 22:52

Cách thành phố Đà Lạt khoảng 15 cây số, khu du lịch sinh thái Núi Voi – Đá Tiên là một chốn “thiên đường”, không giống bất cứ khu du lịch nào của thành phố mù sương này.

Hình ảnh
Vũ điệu trong ngày hội của người K'Hor. Ảnh: Cát Lộc

Con đường từ đèo Prenn ngang qua thiền viện Trúc Lâm rồi vào Đá Tiên chạy vòng quanh hồ Tuyền Lâm thơ mộng. Theo con đường vòng quanh chân núi tráng nhựa phẳng lì, chẳng mấy chốc bạn đã bước vào Đá Tiên thơ mộng. Tên gọi Đá Tiên xuất phát từ hiện tượng hai hòn đá trên núi nơi đây có hình dáng hai ông tiên ngồi đánh cờ. Rừng thông nguyên sinh cao vút, xanh ngắt phủ trùm cả khoảng không gia triền núi, bên dưới là những bãi cỏ xanh tươi, điểm lấm tấm những kỳ hoa dị thảo khoe muôn ngàn màu sắc.

Bạn có thể xuống một chiếc xuồng máy hay một chiếc xuồng chèo để du ngoạn mặt hồ bao la sương khói vào buổi chiều tà. Lênh đênh sông hồ xong, lên bờ, ngồi buông câu (khoảng 30.000 đồng/cần và mồi) bắt mấy chú cá làm mồi nhắm vào buổi chiều tối. Với chú voi (khoảng 300.000 đồng/giờ/khách), bạn sẽ ngồi trên lưng nó, lắc lư khám phá rừng thông bao la bên sườn núi.

Hình ảnh
Nhà “lồng chim”, nơi du khách nghỉ qua đêm. Ảnh: Cát Lộc

Hình ảnh
Thác Voi. Ảnh: Cát Lộc

Trở về, tay vịn vào núm vú gỗ trên đầu chiếc thang lớn trước khi đặt chân lên sàn nhà cất theo kiểu nhà dài của đồng bào Ê đê. Bên trong nhà, trên chiếc bàn dài đã dọn sẵn nhiều món ăn thực hiện theo tập tục sinh hoạt của đồng bào dân tộc là những món nướng. Bạn còn làm ấm bụng bằng món cháo cá vừa câu. Ngồi vào ghế, vừa nhẩn nha nhai món ngon bạn vừa thưởng thức điệu múa cồng chiêng truyền thống của người Tây nguyên (từ 2 - 3 triệu đồng/xuất diễn). Gần chục nam nữ người K’Ho vừa múa vừa hát theo tiếng cồng chiêng rền rĩ âm vang vòng quanh đống lửa cháy đỏ rực (mùa nắng múa ngoài trời). Đầu tiên là điệu múa Cầu Giàng, tiếp theo là những tiết mục diễn tả các lễ hội mùa xuân, hội buôn làng, lễ đâm trâu…, thể hiện cuộc sống và phong tục tập quán của người dân tộc Tây nguyên.

Tiếng hát triền miên như ru ngủ người miền xuôi thành phố với những âm từ xao xuyến trái tim: “Ê hê… Ngôi sao thức giấc là mặt trời đi ngủ. Hết mùa mưa lũ là mùa nắng khô. Nắng vàng râu ngô là Tây nguyên thiếu nữ … Này người yêu ơi, em không biết múa, em không biết hát, chỉ biết yêu anh mà thôi. Ê hê… Em không biết múa cho môi anh thổi kèn. Em không biết hát cho đôi tay anh đàn”… (Lời bài hát “Kră yẵn jẹ mi na”).

Bạn sẽ càng “say” hơn khi được các sơn nữ K’Ho mời cùng múa với họ. Theo nhịp cồng chiêng, theo nhịp tay nắm mềm mại của các nàng, bạn nhịp nhàng chân bước. Với ché rượu cần đặt gần đống lửa, bạn nhấp một chút, nghe hương rượu thơm nóng cay nồng lan khắp thân mình. Sảng khoái. Và hưng phấn để uyển chuyển múa tiếp…

Đêm xuống lúc nào không hay. Đống lửa tàn. Tiếng ca tiếng hát tắt theo tiếng cồng chiêng như êm ngủ. Theo xe, bạn rời Đá Tiên mờ mịt sương khuya, lạnh ấm, trở quanh hồ Tuyền Lâm, chạy vài cây số là tới khu Núi Voi. Tới nơi, cũng là lúc trăng lên. Giữa chốn núi rừng mù mịt sương phủ, bạn mới thấy được nét đẹp mơ hồ trong bài thơ “Đà Lạt trăng mờ” của thi sĩ Hàn Mặc Tử.

Nhưng, bất ngờ nhất là du khách được đưa lên giữa lưng chừng cây cổ thụ, cao từ 6 tới 10 thước, để nghỉ qua đêm trong một chòi lá vừa đủ chỗ cho hai người. Trải nghiệm cảm giác hoang dã của một chốn núi rừng nhưng bạn được đáp ứng đầy đủ tiện nghi của một phòng khách sạn cao cấp, với nhà tắm, toillet hiện đại. Nằm, trong căn phòng được gọi là “lồng chim” đó, bạn sẽ nghe tiếng gió lùa không ngớt qua những tán thông rừng nguyên sinh bao la tấu khúc nhạc trời muôn thuở. Ngủ một giấc, sáng dậy trong tiếng chim rừng véo von hót, thật là sảng khoái.

Hình ảnh
Đá Tiên thơ mộng. Ảnh: Cát Lộc

Điểm tâm xong, bạn thả bước dạo quanh một phần khu vực núi Voi rộng 350 héc ta. Thả bước qua những con đường quanh co, lát sau, bạn nghe tiếng nước đổ ầm ào. Càng lên dốc cao, bạn càng nghe tiếng nước đổ lớn hơn. Rồi, trước mắt bạn một thác nước ồ ạt tuôn trắng xóa, thật thích thú. Đi sâu vào rừng thông, nơi có khoảng 46 căn nhà của đồng bào K’Ho cất theo truyền thống bằng gỗ huỳnh đàn, nằm rải rác triền núi, bạn có dịp tìm hiểu phong tục, tập quán của họ.

Lên chót vót đỉnh núi Voi, bạn sẽ cảm nhận nét đẹp thiên nhiên với hệ động thực vật đa dạng sinh học, tham quan làng dân tộc D’ra Hoa để tận mắt thấy cuộc sống còn khá đơn giản của họ trong thế kỷ XXI này… Con đường đất đỏ bazan tuy không được bằng phẳng nhưng cũng là cơ hội để bạn trải nghiệm bản thân, sức khỏe của mình, nhất là được thưởng lãm cảnh quan kỳ vĩ của núi rừng. Dù đường xa nhưng với sương mù bao phủ, bạn chẳng nghe cơ thể mệt nhọc, trái lại càng nghe khỏe gân khỏe cốt một cách tự hào. Ra cổng, bạn thấy hai chú voi đá khổng lồ nằm bên đường đưa tiễn.

Để đến Núi Voi - Đá Tiên, du khách thường chọn tour của Công ty cổ phần du lịch sinh thái Phương Nam, giá bình quân khoảng 60 đô la Mỹ/khách, có xe đón từ thành phố Đà Lạt đến để thụ hưởng những khám phá tuyệt vời rồi trả về sau một ngày đêm nếm trải không gian cao nguyên Lang Bian.
(Sưu tầm từ Internet)
Hình đại diện của người dùng
minhnhat
 
Bài viết: 39
Ngày tham gia: 15 Tháng 9 2011 09:31

Du lịch Đồ Sơn là bãi biển phong cảnh sơn thuỷ hữu tình

gửi bởi minhnhat 26 Tháng 2 2013 13:43

Biển Đồ Sơn là địa danh du lịch biển nổi tiếng của thành phố Hải Phòng. Nơi này từ xưa đã được vua, chúa quan lại phong kiến chọn làm nơi du ngoạn, nghỉ mát.

Ngôi nhà Bát giác kiên cố của Bảo Đại - vị Hoàng đế cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam - là minh chứng cho điều này. Du khách đến du lịch biển Đồ Sơn không chỉ được đắm mình trong những ngọn sóng, làn gió mà còn được hòa mình cùng lễ hội chọi trâu nổi tiếng, hay hội đền Bà Đế hoặc một lần khám phá đảo Hòn Dấu, nơi có ngọn Hải Đăng được ví như mắt ngọc của Tổ quốc dẫn đường cho tàu thuyền lại qua trên biển…

Đồ Sơn được ví như một con rồng trườn mình ra biển Đông với núi, đồi và biển đan xen rất đẹp. Khúc thân rồng uốn lượn tạo nên sự quanh co thơ mộng khi vào rừng, lúc nhô ra biển càng tăng thêm sự hấp dẫn du khách. Ở mỗi khúc quanh, một bãi biển được hình thành.

Hình ảnh
Biển Đồ Sơn thu hút nhiều du khách đến tắm biển, nghỉ ngơi và leo núi,cắm trại

Biển Đồ Sơn được chia thành ba khu. Một con đường trải nhựa phẳng lỳ chạy men theo bờ biển nối liền các khu một, hai và ba luôn nườm nượp người và xe. Khu một gần với khu dân cư ngay đầu quận Đồ Sơn. Tại đây các dịch vụ nhà hàng, khách sạn phục vụ du khách rất sầm uất. Tuy nhiên, bãi biển tại đây không tắm được do sóng lớn và địa hình có nhiều bãi đá, hàu sắc nhọn rất dễ gây tai nạn. Bù lại, bờ biển được xây kè chắc chắn suốt ngày đêm đón sóng và gió biển mát lạnh thổi vào. Hàng ngày vào lúc sáng sớm và chiều tà, du khách du lịch Đồ Sơn rất thích được ngồi trên bờ kè này ngắm bình minh và hoàng hôn trên biển. Khu hai là trung tâm của biển Đồ Sơn với bãi cát mịn chạy dài luôn đông nghịt người xuống tắm biển và đây cũng chính là nơi có biệt thự Bảo Đại, toà nhà được toàn quyền Đông Dương người Pháp xây dựng từ năm 1928 sau đó tặng cho Bảo Đại trên diện tích 900m2. Ngày nay, biệt thự này được một đơn vị du lịch của Hải Phòng đưa vào kinh doanh phục vụ du khách. Biệt thự có các dịch vụ phòng ngủ của vua, hoàng hậu, công chúa, hoàng tử… để du khách khám phá cảm giác nơi cung cấm.

Hình ảnh
Biển Đồ Sơn bao la ba mặt, quanh năm lộng gió

Trái ngược với sự ồn ào, náo nhiệt của khu hai, khu ba lại vô cùng tĩnh lặng. Các khách sạn được xây dựng nép dưới những vòm cây. Khu ba cũng là nơi có sòng bài casino phục vụ du khách trong và ngoài nước. Cũng tại đây dưới chân đồi Nghinh Phong có một địa điểm lịch sử gắn liền với cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước của dân tộc ta. Ngày nay, ở thung lũng Xanh dưới chân đồi Nghinh Phong có một tượng đài kỷ niệm đường Hồ Chí Minh trên biển. Đây chính là địa chỉ giáo dục thế hệ trẻ hôm nay nhớ về truyền thống hào hùng của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giữ nước. Nơi đây còn có Bến Nghiêng nơi chứng kiến những tên lính thực dân Pháp cuối cùng rút khỏi Việt Nam năm 1955…

Giống như những bãi tắm biển khác, đến với du lịch biển Đồ Sơn du khách được thả sức lựa chọn những món ăn hải sản như tôm, cua, ghẹ, mực và các loài cá vừa được ngư dân đánh lên từ biển. Đối với những đệ tử lưu linh thì giá biển quả là món nhậu tuyệt vời. Một chút vị ngòn ngọt, cay cay. Một chút vị bùi, ngậy, hăng hăng. Một chút giòn tan của giá… tất cả như thu nạp hết hương vị của biển để rồi ai nấy cứ nhấm nháp, đê mê mãi mà không chán.

Ngoài du lịch biển Đồ Sơn đến với Du Lịch Việt Nam du khách còn có thể chiêm ngưỡng nhiều chương trình du lịch biển dài với những bãi cát đẹp, nhiều điểm nghỉ dưỡng tuyệt đẹp khác như: du lịch biển Cô Tô, du lịch biển Quất Lâm, du lịch biển Cửa Lò…
Hình đại diện của người dùng
hiennguyenthv
 
Bài viết: 5
Ngày tham gia: 09 Tháng 5 2013 14:21

Địa Điểm du lịch đà nẵng:Hải vân quan thiên hạ đẹ nhất

gửi bởi hiennguyenthv 14 Tháng 5 2013 10:26

Hải vân quan ngày xưa hay bây giờ là đèo hải vân chính là con đường huyết mạch nối giữa hai miền nam bắc nước ta.Vẽ đẹp của đèo hải vân chắc không có ai có thể chối từ nó.Ngày xưa đèo hải vân được vua Nguyễn phong là “Thiên Hạ Đệ Nhất Hùng Quan”.Ngày nay Dèo hải vân vẫn được xem là một cảnh quan hùng vĩ của núi rừng.Đặc biệt con đường liên thông bắc nam nếu được nhìn từ trên cao xuống sẽ giống như Một dãi lụa uốn lượn quanh núi đèo hùng vĩ.Sau khi hầm hải vân được thông thì đèo hải vân chính là một địa điểm du lịch Đà nẵng rất đẹp,kỳ bí cho những ai thích khám phá.Các bạn có thể dùng xe máy thong dong tham quan trên con đường uốn lượn quanh đèo của điểm du lịch tại đà nẵng này.
Trong lịch sử triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1791-1840) là người thích ngoạn du, cho nên dấu ấn của ông để lại nhiều nơi.
Vào năm 1826 ông đã cho xây Hải Vân Quan, ông đã cho xây đá thành bậc ở những đoạn đường dốc cho dễ đi lại và ngay trên đỉnh đèo. Phía trên cửa trạm gác quay về hướng bắc treo một tấm biển to bằng đá cẩm thạch khắc ba chữ Hán lớn “Hải Vân Quan”, và phía quay về hướng nam là biển đá với sáu chữ Hán “Thiên hạ Đệ Nhất Hùng Quan”.

Giờ đây, con đèo hoang vu ít phương tiện giao thông đi lại này là địa điểm lý tưởng để những người ưa xê dịch mạo hiểm khám phá.
Con đèo với những lối cua khúc khuỷu đến rợi người, một bên là lau lách um tùm, một bên là tiếng sóng biển ầm ào có một sức hút kỳ lạ đối với những người ưu thích sự kỳ vĩ. Hình dung Hải Vân Quan như một chiếc đòn gánh thì hai đầu con đèo như hai chiếc quang gánh, gánh hai bãi biển đẹp.
Tạp chí Mỹ Forbes đã bình chọn biển Đà Nẵng là một trong sáu bãi biển quyến rũ nhất thế giới và Câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới (Worldbays Club) bình chọn cho vịnh Lăng Cô (Huế).
Chỉ cần 1 chiếc xe gắn máy, bạn hãy lên đường để thưởng thức cảm giác Thiên hạ đệ nhất hùng quan mà vua Minh Mạng đã từng ban tặng cho Hải Vân Quan.
Hình đại diện của người dùng
duongcamthu
 
Bài viết: 1
Ngày tham gia: 25 Tháng 12 2013 14:17

Truy tìm kho báu cổ của người Mường Voong

gửi bởi duongcamthu 25 Tháng 12 2013 14:26

Để tìm hiểu về kho báu cổ này, chúng tôi đã tìm gặp ba anh em nhà họ Cao, đó là ông Cao Viết Hưng, Cao Viết Hội và Cao Văn Nguyệt ở huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Ở làng Chiềng (Cẩm Quý, Cẩm Thủy, Thanh Hóa) có dòng họ Cao đang cất giấu bốn bản sắc phong cổ của các đời Vua Y Tông, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định.

Trong những bản sắc phong đó có nhắc tới một kho báu vô cùng quý giá từng được chôn vùi cách đây hơn 400 năm, kèm với những câu chuyện mang màu sắc huyền bí.

Điều đáng nói đó là những dấu tích về kho báu mà các bản sắc phong này đề cập vẫn đang tồn tại và được người dân bản địa bảo vệ rất nghiêm ngặt.

Từ hai bản sắc phong cổ

Để tìm hiểu về kho báu cổ này, chúng tôi đã tìm gặp ba anh em nhà họ Cao, đó là ông Cao Viết Hưng, Cao Viết Hội và Cao Văn Nguyệt. Theo như chính quyền địa phương cho biết thì hiện tại ông Cao Văn Nguyệt đang giữ 2 trên 4 bản sắc phong có ghi chép về kho báu cổ. Còn bản sắc phong của vua Duy Tân thì do ông Cao Viết Hội cất giữ. Để lấy bản sắc phong cho chúng tôi xem, ông Hội phải thắp hương xin tổ tiên cho phép rồi mới cẩn trọng dùng chìa khóa, tay run run mở một ngăn bí mật trên ban thờ.

Từ trong hộp gỗ dài khoảng 80cm, trạm trổ hoa văn tinh xảo, ông Hội lấy ra bản sắc phong đã cũ sờn, nhiều chỗ rách nát. Nhiều chữ nho ghi trên đó cũng bị mất, bị nhòe bởi tác động của thời gian. Tuy nhiên, phía dưới bản sắc phong có đóng dấu đỏ và ghi rõ ràng do vua Duy Tân ban ngày 11/8/1909. Theo Ông Cao Sơn Hải - nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Thanh Hóa - người chuyên sưu tầm bảo vật cổ về người Mường Voong (tộc người bản địa ở là Cẩm Quý, Cẩm Thủy) thì bí mật về kho báu của tộc người này đều được ghi trong các bản sắc phong của dòng họ Cao, trong đó có bản sắc phong của vua Duy Tân mà ông Hội đang giữ.

Cũng giống như bản sắc phong ông Hội đang cất giữ, tại các nhà ông Cao Văn Nguyệt, Cao Viết Cẩm chúng tôi cũng được thấy hai bản sắc phong tương tự, chỉ khác nhau về mức độ cổ kính nhưng đều nhắc đến kho báu của người Mường Voong. Cả ba ông đều cho biết, trước đây cứ mỗi đợt nắng hạn kéo dài thì dân làng lại tổ chức rước các bản sắc phong và làm lễ cầu mưa. Giờ đây không còn tiến hành lễ nên trưởng nhánh của họ chia nhau giữ để bảo vệ và coi đây là gia bảo, nếu giữ gìn được tổ tiên sẽ luôn ở bên phù hộ.

Nội dung của các bản sắc phong đề cập đến rất nhiều chi tiết cụ thể, tuy nhiên xuyên suốt từ đầu đến cuối chính là câu chuyện về thần rắn trả ơn ông tổ nhà họ Cao. Theo đó: thuở xưa, ở làng Chiềng có một ông già tên Thuật, họ Cao khi đi bẫy cá ngoài suối nhặt được một quả trứng lạ, dù nhiều lần ném đi nhưng trứng vẫn tự động chui vào bẫy mỗi khi ông nhấc lên, thấy lạ nên ông mang về cho gà ấp. Sau ba tuần trăng, trứng liền nở ra một con quái vật to lớn có mào, hình thì giống như rắn. Khi quái vật lớn, thường xuyên gây ra cảnh bắt trộm gia súc, gia cầm của người dân trong bản nên ông Cao Thuật đưa rắn ra sông Ngang (nay gọi là sông Bưởi) thả.

Vài năm sau ông Cao Thuật mắc bệnh qua đời, làng Chiềng thì bị hạn hán kéo dài. Nghĩ đến việc người nuôi dưỡng mình không còn, rắn thần quyết định báo đáp bằng cách trị hạn cho dân làng. Rắn khoét một đường hầm từ sông Ngang vào làng Chiêng, nhưng lúc ngóc đầu lên lại đâm nhầm phải các làng Ăn, làng Đầm, làng Chang. Ngày nay, trước đầu những làng ấy vẫn còn dấu vết là các giếng cụt, vẫn được bà con kè đá hẳn hoi. Cuối cùng, rắn ngóc đầu lên ngọn núi cao nhất gọi là Ái Nàng để xác định vị trí quê hương, để đào hầm dẫn nước về. Chính trên ngọn núi ấy, nơi quái vật ngóc đầu chính là một bát nước bằng đá, cứ tát đi nước lại tự động đầy. Vết tích ấy ngày nay vẫn còn trên ngọn núi Ái Nàng.

Tiếng đồn làng Chiềng Voong có ông lão nuôi rắn, được trả ơn mang lại no ấm cho dân bản lan đến tai vua, ngay lập tức vua sai người lập bản sắc phong cho thuồng luồng là Thành hoàng Đại vương Tối linh thần, trao cho trưởng họ Cao lưu giữ. Cũng theo các bản sắc phong thì ngoài việc tạo hai giếng thần không bao giờ cạn, thần rắn còn để lại cho dân làng Chiềng một kho báu lớn với nhiều loại vàng, bạc châu báu quý giá, dân làng chỉ được sử dụng trong những tình huống thật cấp bách, mang tính sống còn (số báu vật này thần rắn lấy từ các tàu thuyền của các lái buôn, những tên trộm khi đi tàu, thuyền qua sông Ngang). Về sau vua Y Tông dựng một nơi an toàn để cất giấu kho báu, vị trí chôn vàng bạc được giữ bí mật, chỉ có một số ít người biết tới.

Truy tìm kho báu cổ

Theo những thông tin lọc ra từ các bản sắc phong, chúng tôi được người dân dẫn đến một ngôi chùa Mỏng thuộc thôn Cẩm Hoa. Theo thời gian, cảnh vật ngôi chùa này đã không còn như miêu tả trong các bản sắc phong, cũng như trong cuốn "Truyện cổ Mường Voong" mà người già làng Chiềng kể lại. Ngôi chùa hiện chỉ còn những dấu tích khó nhận biết, duy miêu tả về một hang đá, bên trong có tượng hình một cậu bé trần truồng há miệng lên trời là vẫn còn. Theo ông Cao Văn Hiền - trưởng thôn làng Chiềng thì ngôi chùa này từng rất to đẹp nhưng bị tàn phá bởi chiến tranh. Thời trước, hằng ngày, trẻ chăn trâu vẫn thường trèo lên đấy nô đùa xung quanh bức tượng mà không hề biết nơi đây ẩn chứa kho báu được nhắc đến trong truyền thuyết Mường Voong.

Khi chiến tranh kết thúc, nghe nói một số người Pháp đã đi ôtô đến đây, rồi mở bản đồ ra. Sau đó họ múc một xô nước rồi trèo lên đổ vào mồm bức tượng. Nước từ "của quý" của "cậu bé" tượng đấy "bắn" ra một vị trí cách đó 2m. Thế là họ liền dùng cuốc xẻng đào xuống. Bên dưới có rất nhiều thùng đồng lớn đã hoen gỉ. Mở ra bên trong toàn là vàng, các thanh vàng óng ánh to như những viên gạch. Theo bà con người Mường ở đây kể lại thì lý do mà người Pháp biết được kho báu là do chúng đã tra tấn dã man một trưởng bản nắm giữ bí mật, sau khi có được thông tin, chúng tìm cách cất giấu vì không thể mang hết về nước được. Theo người dân, tại khu vực này khi canh tác nhiều người đã nhặt được các mẩu vàng nhỏ, đồ trang sức bị vỡ… Đáng chú ý, cách đây 10 năm, người dân làng đã đào được 3 chiếc trống đồng rồi đem nộp cho chính quyền, có lẽ là do Pháp nhận thấy không hữu dụng nên đã bỏ lại.

Theo trưởng thôn Cao Văn Hiền thì hiện tại chính quyền địa phương vẫn đang phải rất vất vả đối phó với những tên săn lùng cổ vật từ các tỉnh khác kéo đến với khát vọng tìm ra được những phần còn sót lại của kho báu cổ. Nhiều kẻ còn điên cuồng định dùng máy xúc, máy dò kim loại bới tung khu di tích chùa cổ, may nhờ có sự cảnh giác của người dân nên đã kịp thời chặn đứng hành vi phá hoại.

Cùng với những dấu tích về kho báu cổ, tại làng Chiềng vẫn đang còn rất nhiều di tích khác được nhắc đến trong 4 bản sắc phong. Rõ nét nhất là đôi giếng tiên mà thần rắn đã đào để dẫn nước về.

Trong không gian nhuốm màu huyền thoại được tạo nên bởi những cây đa cổ thụ, cặp giếng tiên này hằng ngày vẫn tự trào nước lên trên mà không bao giờ cạn, cho dù hạn hán thế nào đi nữa. Nói về việc nước giếng tự trào ra, ông Cao Viết Cẩm cho biết: "Vào những năm hạn hán nhất, khi tất cả những giếng ăn trong làng chỉ còn vét được vài gầu nước thì hai mó giếng vẫn cứ trào nước ra ngoài. Ngay mùa hè năm ngoái, mấy nhà gần giếng còn bơm nước từ giếng lên vườn để tưới mía. Hút liên tục cả mấy tiếng đồng hồ mà nước trong giếng cũng chỉ giảm một chút rồi lập tức đầy trở lại".

Ông Cẩm cũng cho hay, mỗi khi muốn lấy nước nhiều như vậy thì người lấy phải làm lễ "Vá vong". Nếu không tuân thủ quy định này thì nước giếng sẽ tụt một cách khó hiểu hoặc trào lên dữ dội. Đã có lần hai con trâu đánh nhau, một con trâu trắng rơi xuống giếng khiến nước giếng tụt xuống gần đáy. Lần khác có người mang quần áo bẩn giũ thẳng xuống mặt giếng thì nước bất ngờ trào lên dữ dội, làm ngập cả kho mường. Cũng chính trưởng thôn Cao Văn Hiền cho biết: "Năm 1960 dân làng xây thành giếng bằng xi măng thì không sao nhưng đến năm 1989 tu bổ lại và xây tường bao quanh có dùng thêm vôi thì nước giếng bỗng sôi sục lên, màu nước cũng đỏ một cách đáng sợ".

Chính việc trùng hợp rất nhiều giữa nội dung mà các bản sắc phong đề cập với những di tích, các yếu tố tự nhiên đã và đang tồn tại ở làng Chiềng tạo ra sự mơ hồ giữa thực và hư. Liệu câu chuyện kho báu ở Chiềng Voong là có thật? có thể chúng đã bị lấy cắp hay vẫn đang ẩn mình tại những vị trí bí mật tại làng Chiềng? Câu trả lời có thể sẽ được các nhà văn hóa, khảo cổ tìm ra lời giải trong tương lai. Tuy nhiên "kho báu" là những sự tích, truyện cổ, các bản sắc phong của người Mường ở làng Chiềng thì ngay lập tức cần được tìm hiểu và lưu giữ, nếu chúng ta không muốn mất đi một kho tàng văn hóa quý báu hiếm có ở Việt Nam.

Theo ông Bùi Minh Thông - chủ tịch UBND xã Cẩm Tú cho biết: Những chuyện kì lạ liên quan tới kho báu Mường Voong và đôi giếng tiên cũng là những câu chuyện từ dân gian có từ rất lâu rồi. Những chuyện kì lạ như nước từ đôi giếng tiên đùn lên không ngừng cũng là có thật nhưng những điều kì ảo xung quanh đó cũng chỉ là do người dân đồn đại chứ chưa có ai kiểm chứng được sự thật.
Quay về Du lịch Miền Trung
 


  • Bài Viết Liên Quan
    Trả lời
    Xem
    Bài viết sau cùng

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: Google [Bot]1 khách.