Chào mừng quý khách đến với Hồ Hoàn Kiếm- lẵng hoa xinh đẹp giữa lòng thành phố Hà Nội
Lời đầu tiên cho phép tôi được giới thiệu, tôi tên là Đặng Hoài Thương. Hôm nay tôi rất vui khi được là người giới thiệu cho quý khách một địa chỉ thân thương của mảnh đất kinh kỳ Thăng Long- Hà Nội, đó chính là Hồ Hoàn Kiếm- Đền Ngọc Sơn.
Trong rất nhiều những di tích văn hoá, lịch sử, danh lam thắng cảnh của Hà Nội, Hồ Hoàn Kiếm- Đền Ngọc Sơn từ lâu đã là điểm đến thân thuộc của mỗi người dân đất Hà Thành. Đó cũng là điểm đặt chân đầu tiên khi ai đó đi xa hoặc trở về, nơi mà những điều bình dị vượt qua mọi thác ghềnh của thời gian và sự đổi thay của đất trời để giữ lại trong mình những điều tinh tuý nhất.
Quý khách kính mến, như vậy là cũng chỉ còn 559 ngày nữa là Hà Nội của chúng ta sẽ đón chào Lễ kỷ niệm nghìn năm Thăng Long- Hà Nội, đây không chỉ là sự kiện thiêng liêng đối với người dân đất Hà Thành mà còn mang ý nghĩa trọng đại đối với nhân dân cả nước khi hướng về thủ đô, thu hút được sự quan tâm của các ban, ngành, tổ chức và bạn bè quốc tế.
Với hy vọng thông qua quần thể du lịch Hồ Hoàn Kiếm- Đền Ngọc Sơn góp phần tái hiện cho quý khách chân thực hình ảnh của thủ đô xưa và nay, thay mặt cho ban quản lý cụm di tích, tôi xin kính chúc quý khách luôn tràn đầy sức khoẻ, chúc quý khách có một buổi tham quan vui vẻ và ấn tượng.
Quý khách kính mến, chúng ta đang có mặt bên Hồ Hoàn kiếm thuộc quận Hoàn Kiếm- quận trung tâm của thủ đô HN, đây là nơi tập trung nhiều bộ,sở ,ban ngành và các cơ quan quản lý nhà nước, cũng là nơi tập trung đầu mối giao thông, đại sứ quán và các cơ quan chính trị, xã hội, tôn giáo.
Cách đây khoảng 6 thế kỷ, hồ Hoàn Kiếm mà quý khách đang thấy hiện nay gồm hai phần chạy dài từ phố Hàng Đào, qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt tới phố Hàng Chuối, thông với sông Hồng. Nước hồ quanh năm xanh biếc nên hồ Gươm cũng được gọi là hồ Lục Thuỷ.Tương truyền vào thế kỷ 15 hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm, gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng, ghi lại thắng lợi của cuộc chiến đấu 10 năm của nhân dân Việt Nam chống lại quân Minh(1417-1427) dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi. Truyền thuyết kể rằng khi Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (Thanh Hoá) có mò được một lưỡi gươm, sau đó lại nhặt được một cái chuôi ở ruộng cày. Gươm báu này đã theo Lê Lợi trong suốt thời gian kháng chiến chống giặc Minh. Khi lên ngôi về đóng đô ở Thăng Long, trong một lần nhà vua đi chơi thuyền trên hồ Lục Thuỷ, bỗng một con rùa xuất hiện. Lê Thái Tổ rút gươm khỏi vỏ, giơ gươm ra thì gươm bay về phía con rùa. Rùa ngậm gươm lặn xuống đáy hồ, và từ đó hồ Lục Thuỷ có tên gọi mới là hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) hay hồ Gươm. Cũng vào thời Lê, hồ còn được dùng làm nơi tập luyện của thuỷ quân nên có lúc được gọi là hồ Thuỷ Quân.
Xin quý khách hãy phóng tầm mắt ra xa một chút, quý khách sẽ thấy một hình ảnh vô cùng quen thuộc của thủ đô Hà Nội, chính là Tháp Rùa.Trên đỉnh tháp Rùa vào năm 1945, lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh đã tung bay giữa bầu trời Hà Nội, càng ghi khắc giờ phút thiêng liêng và ấm áp của toàn miền bắc.
Đựơc ví như một lẵng hoa giữa lòng thành phố. Ngay từ thời kỳ thực dân, người pháp đã sớm có những hoạt động nhằm nâng cao giá trị của điểm như: nạo vét hồ, kè bờ, trồng cây,…Lúc đâù để phục vụ cho người pháp, sau đó mở rộng phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân.
Theo quan niệm xưa thì nước từ lâu đã được xem là biểu tượng của những tinh thần và thẩm mỹ. Hà Nội được bao bọc bởi sông ngòi, có nhiều hồ, cũng chính là nhân tố quan trọng góp phần tạo nên bản sắc cho thành phố. Hơn nữa ở Hồ Hoàn Kiếm còn có sự đan xen của nhiều tầng văn hoá: có văn hoá phong kiến còn chút tàn dư, có tầng văn hoá pháp thuộc với phong cách kiến trúc thuộc địa, mới hơn là tầng văn hoá hiện tại với kiến trúc hình hộp.
Có người đã từng nói rằng: Đời con người như một dòng sông, luôn chảy đi bất tận song trước tất cả những đổi thay ấy, đến với Hồ Hoàn Kiếm ai ai cũng có thể cảm nhận thấy nét rất khác trong 24 giờ của ngày, điểm hẹn của những tập quán truyền thống, lá phổi xanh của thành phố và những ký ức không bao giờ phai mờ được. Còn bây giờ tạm chia tay Hồ Hoàn Kiếm, xin mời quý khách tham quan Đền Ngọc Sơn.
Từ vị trí này, xin mời quý khách hướng mắt nhìn lên phía trên, nơi có ngọn Tháp Bút đứng vững chãi trên gò núi Độc Tôn.
Ngược dòng lịch sử, vào những năm của thế kỷ 19, thực dân pháp ráo riết xâm lược nước ta. Năm 1863, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ, triều đình Huế lúc này có phe chủ chiến, có phe chủ hoà. Tuy lúc này Phương đình Nguyễn Văn Siêu đã cáo quan về quê nhưng vẫn luôn đau đáu một nỗi niềm trước vận mệnh đất nước. Khi đứng ra tu sửa lại đền Ngọc Sơn, bắc lại cầu Thê Húc,Phương đình Nguyễn Văn Siêu đã cho xây dựng một tháp đá trên gò núi Độc Tôn ( ngọn núi đắp để kỷ niệm cuộc dẹp yên ở Độc Tôn, Phú Yên, Thái Nguyên ) trên đỉnh tháp là ngọn bút lông dựng ngược, trên thân tháp khắc 3 chữ là Tả Thanh Thiên nghĩa là Viết lên trời xanh. Nó thể hiện cho bản lĩnh sống, thế thượng phong của người có tâm, lòng tự hào dân tộc.Tháp vuông 5 tầng, chiều cao cả núi bằng 28m. Đỉnh là một ngòi bút dựng ngược, cả cán và ngòi cao 0,9m. Tượng trưng cho nền văn vật
Tháp Bút xây dựng cách đây 145 năm tại Hồ Gươm có thể ví như lối kiến trúc Gôtích ở Châu Âu thế kỷ VII- thế kỷ XV, vận dụng hình cung nhọn làm trần thánh đường và nhà thờ, tượng trưng cho mong muốn thoát ra khỏi vòng vây trói buộc.
Cạnh đó, Cụ còn cho xây Đài Nghiên và Đình Trấn Ba. Cả ba công trình Cụ đều đề chữ như để góp tiếng nói sáng suốt và củng cố lòng tin vào truyền thống văn võ của cố đô Thăng Long.
Qua cổng tam quan, quý khách sẽ đi qua bảng rồng và bảng hổ, tượng trưng cho 2 bảng cao quý nêu tên những người thi đỗ, khích lệ những người tham gia các khoá thi sau.
Mời quý khách sang phía bên này để có thể quan sát rõ hơn về Đài Nghiên. Trên cửa cuốn, quý khách có thể quan sát thấy có Đài Nghiên, được tạc bằng đá hình nửa quả đào đặt lên đầu 3 con cóc. Trên Nghiên còn có khắc một bài minh nói về công dụng của Nghiên trên phương diện triết học,cũng là lời giải bày tâm sự về việc xây dựng Tháp Bút- Đài nghiên. Chung quanh thành nghiên đá khắc bài minh mô tả "nghiên đá không vuông không tròn, không ở cao không ở dưới, nếu khéo sử dụng sẽ làm được rất nhiều việc" đã gợi có người đọc nghĩ đến loại người không sắc cạnh, không tròn trịa, không ở cao cũng không ở dưới, thường ứng với "Bậc trên" (thượng đài) nhả lời rành rọt, nhẹ nhàng. Nếu "Bậc trên khéo chứa" (diệu tồn) khéo trọng loại người này sẽ làm được việc. ý là nếu "Bậc trên" biết trọng kẻ sĩ thì có thể làm được nhiều việc cho đất nước.
Thưa quý khách, chúng ta đang đi qua cầu Thê Húc nghĩa là cậu đậu nắng ban mai, kết hợp màu xanh của nước đã tôn vinh lên màu đỏ rất duyên dáng của cây cầu này.
Trước mắt chúng ta đang thấy là Đắc Nguyệt Lâu ( lầu được trăng). Xưa kia là nơi tụ họp ngắm trăng của các bậc vua chúa. Khi danh sĩ Nguyễn Văn Siêu cùng những người bạn đồng thanh tương ứng của mình góp công xây dựng khu thắng cảnh Ngọc Sơn xinh đẹp này cũng là để gửi vào đây cái ý chí muốn tô điểm cho Ngọc Sơn thành một tâm điểm thu hút vẻ đẹp của thiên nhiên, và vũ trụ .. những là mây gió trăng hoa tuyết núi sông. Như là một chốn giang sơn gấm vóc thu nhỏ bên mình. Đó cũng là cách thể hiện những vẻ đẹp trong tâm hồn kẻ sĩ đất Hà Thành, hào hoa phong nhã .
Trên lầu có những lớp mái đao cong xếp mềm mại tạo cho chúng ta có cảm giác thấy những đám mây, mặt trăng trổ ở bốn phía lầu như tô điểm vẻ thơ mộng của vầng trăng trong đêm tối. Quý khách cũng có thể thấy hình tượng môtip trang trí trên Đắc Nguyệt Lâu đó chính là những bông hoa sen thể hiện tư tưởng Phật giáo
Hai bên này quý khách có thể thấy hai bức phù điêu khá lớn. Phía bên trái là hình ảnh con rùa vàng chở kiếm thần nhắc gợi cho chúng ta sự tích vua Lê Lợi trả gươm cho rùa thần. Đối diện tấm bảng nổi là hình long mã chở bát quái là biểu tượng hình thành trong thi cử, hoạn lộ và khả năng chiếm lĩnh tri thức, chinh phục của kẻ sĩ thời xưa
Quý khách kính mến, từ vị trí này quý khách có thể nhìn bao quát đền Ngọc Sơn và Đình Trấn Ba. Đình Trấn Ba được xây dựng theo lối kiến trúc 2 tầng 8 mái, nó không chỉ có chức năng tô điểm mà còn ngăn chặn những làn sóng văn hoá không lành mạnh.Trước khi vào thăm đền tôi xin được điểm qua về quá trình hình thành đền.
Vào thời Trần và đầu thời Lê, đền Ngọc Sơn được xây dựng để thờ các tiên nữ dạo chơi trên hồ. Thời Lê- Trịnh, Trịnh giang cho xây cung Khánh Thụy trên đảo ngọc (còn gọi là Tượng Nhĩ, đời vua Lý thái tổ gọi là Ngọc tượng, đời trần là ngọc sơn. Tại đây có một ngôi đền thờ những người anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Nguyên mông). Đời chúa Trịnh Doanh đắp một gò núi phía đông Hồ Gươm, gần Đảo Ngọc Sơn gọi là Độc Tôn, chính là gò trước mắt quý khách. Năm 1788, trước khi chạy cầu cứu quân xâm lược Thanh, Lê Chiêu Thống đã cho lính đốt cháy phủ chúa và cung Khánh Thụy. Đầu thế kỷ 19 một ngôi chùa được xây dựng trên nền cũ của cung Khánh Thụy, kiến trúc của Đền Ngọc Sơn ngày nay là do Phương đình Nguyễn Văn Siêu tu sửa vào năm 1864.
Khu vực chính của đền Ngọc Sơn có 3 phần. Phía trước: Đình Trấn Ba. Giữa là Điện thờ chính: thờ Thánh Văn Xương và chư vị thần tiên, mang màu sắc Đạo giáo. Sau cùng là Hậu cung: thờ Trần Hưng Đạo
Đến thăm đền Ngọc Sơn chúng ta có thể thấy điển hình về sự dung hoà tín ngưỡng của tam giáo là Nho, Phật, Lão ở Việt nam.
Trong hậu cung thờ phật Adiđà, quá trình tu bổ sau này đặc biệt phải nhắc đến hội hướng thiện thế kỷ 19, Văn Xương Đế Quân đã trở thành vị thần được thờ phụng chính tại đền Ngọc Sơn. Đây là vị thần được dân gian theo Đạo giáo tôn sùng là vị thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân( cũng được gọi theo 6 ngôi sao trên trời). Văn Xương Đế Quân cũng là tên một vì sao, cũng gọi là Văn Khúc hoặc là sao Văn. Người Trung Quốc cho rằng đây là tinh tú nắm giữ công danh và văn vận của thế gian. Tại các ngôi chùa và miếu của người Hoa thì cũng thờ vị thần này.
Trong đền còn phối thờ quan Vân Trường( quan Vũ) là biểu tượng của tấm lòng trung dũng, ngay thẳng và giàu nhân nghĩa trong cuộc sống, chính là nhân vật quen thuộc trong Tam Quốc Diễn Nghĩa.
Quý khách cũng có thể quan sát thấy, ở đền còn thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn( tên thật là Trần Quốc Tuấn). Là danh tướng thời trần và cũng là danh tướng trong lịch sử Việt Nam, người đã có công lớn trong 2 lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Ông còn là tác giả của Bộ Binh Thư Yếu Lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Đối với mỗi người Việt Nam, ông được tôn sùng như một bậc thánh nên còn gọi là Đức Thánh Trần. Lúc mới sinh ra, đã có một ông thầy tướng xem và bảo rằng:"Người này, ngày sau có thể giúp nước cứu đời". Khi lớn lên, ông đã chứng tỏ là người thông minh hơn người, đọc thông hiểu rộng, văn võ song toàn, là người có tài dụng binh, lấy dân làm gốc. Vốn có tài quân sự lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên Mông tấn công Đại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2 và lần thứ 3 với các trận thắng như: Chương Dương, Hàm Tử Quan, Vạn Kiếp, Bạch Đằng…
Sau khi kháng chiến chống Nguyên Mông lần 3 thành công, ông về trí sĩ ở trang viên tại Vạn Kiếp, ông vẫn dâng những kế sách chống giặc, trị nước cho các vua Trần. Năm 1300 ông mất, thọ 70 tuổi.
Bức tượng nữa là Lão Tổ, người đã đặt nền móng hình thành Đạo giáo. Có thể nhắc đến một tư tưởng khá hay của Lão giáo: coi thể xác là nguồn cội của những khổ sở, còn tâm trí là cái gốc của phiền lụy. Vì thế, con người khi làm bất cứ việc gì cũng phải xem xét cho thật kĩ lưỡng, dùng hết tâm trí để hiểu được việc đời. Có như thế thì con người mới có được trạng thái ung dung, nhàn nhã. Còn những việc tốt hay xấu xảy đến với bản thân mỗi người chỉ là tuân theo lẽ tự nhiên, con người nên dùng chính cái lẽ tự nhiên đó mà hành xử, mọi việc sẽ đâu vào đó.
Thưa quý khách, cách đây không lâu thì tôi có xem một chương trình phỏng vấn, trong đó một cô phóng viên đã hỏi cảm nhận khi đến với Hà Nội của một người khách nước ngoài, sau khi tham quan rất nhiều nơi, đặc biệt là Hồ Hoàn Kiếm, Đền Ngọc Sơn và khu phố cổ Hà Nội thì người khách nước ngoài đã nói một câu rất ngắn gọn về Hà Nội, đó là sự tự nhiên, hài hoà, cân bằng và tinh tế. Quý khách kính mến, hiện nay như quý khách đã thấy Hà Nội đang dần xuất hiện những ngôi nhà chọc trời, những khu đô thị mới, những con đường mới và cả những thay đổi ngầm trong lòng mỗi người. Nhưng dù cho những điểm nhấn đã in hằn dấu vết thời gian, trong những dòng văn, câu thơ, trong ký ức và trong cả những câu chuyện kể chúng ta vẫn nhớ một Hà Nội với những chiếc xích lô chạy theo những con đường, một Hà Nội với những cây cơm nguội vàng, với chiếc cầu thê húc cong cong, tháp rùa nhỏ nhắn xinh xắn…tất cả những vẻ đep không hề phô trương, không hề giống với bất kỳ thủ đô nào trên thế giới ấy chính là tất cả những điều tôi muốn chia sẻ cho quý khách về Hà Nội, xin chào và hẹn gặp lại quý khách trong một ngày gần đây nhất.
PHẦN THÔNG TIN BỔ TRỢ:
1.Tháp Hoà Phong:
Tháp đứng trên vỉa hè bên phía hồ Hoàn Kiếm đối diện với Trung tâm Ngoại vụ Bưu điện Hà Nội qua trục đường Đinh Tiên Hoàng.
Đây là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân, còn gọi là chùa Quan Thượng, một quần thể kiến trúc Phật giáo nổi tiếng một thời. Nguyên là vào giữa thế kỷ XIX ở chỗ này và toàn thể khu vực trung tâm Bưu điện có một ngôi chùa lớn. Khuôn viên hình tám cạnh gồm hai chục nếp nhà, nhà thờ Phật, nhà thờ Mẫu, nhà in Kinh, nhà cho các sư ở, cả thảy trên một trăm gian, bên trong trang trí rất tráng lệ. Ngoài chùa là hồ sen.
Trước cửa chùa là ngọn tháp Hoà Phong. Chùa được xây dựng vào năm 1846 theo sáng kiến của Quan Thượng (chức quan đứng đầu tỉnh Hà Nội) Nguyễn Đăng Giai.
Năm 1898, cùng với đà mở mang xây dựng đường phố mới, chùa bị phá hủy, chỉ còn ngọn tháp Hòa Phong. Đây là một loại tháp hiếm có ở Hà Nội, thuộc loại tháp bốn cửa, biến dạng của Stupa (một loại hình tháp của Phật giáo Ấn Độ). Bốn mặt tầng hai có hình bát quái. Bát quái ban đầu là công cụ chỉ phương hướng, theo vũ trụ quan Trung Hoa.
2. Đạo Lão:
Đạo Lão (Lão Giáo) có nguồn gốc từ Trung Quốc. Ở Việt Nam, đạo Lão khá phát triển từ thời Đinh Tiên Hoàng (cuối thế kỷ X). Đến đời Lý, đạo Lão phát triển cùng với đạo Phật và đạo Nho. Đạo Lão là do Lão Tử khởi xướng, vốn là người làng Khúc Nhân ở nước Sở. Theo truyền thuyết, bà mẹ mang thai 80 năm mới sinh ra ông, lúc sinh thì đầu đã bạc nên gọi ông là Lão Tử. Ông làm quan cho nhà Châu, sau thấy nhà Châu suy nhược nên về ở ẩn.
Triết học Lão Tử chứa đựng những nhân tố duy vật tự phát, vô thần và biện chứng. Cơ sở triết học của ông được lấy từ những quan niệm duy vật nguyên thủy ở Trung Quốc như khí âm, dương...
Lão giáo coi thể xác là nguồn cội của những khổ sở, còn tâm trí là cái gốc của phiền lụy. Vì thế, con người khi làm bất cứ việc gì cũng phải xem xét cho thật kĩ lưỡng, dùng hết tâm trí để hiểu được việc đời. Có như thế thì con người mới có được trạng thái ung dung, nhàn nhã. Còn những việc tốt hay xấu xảy đến với bản thân mỗi người chỉ là tuân theo lẽ tự nhiên, con người nên dùng chính cái lẽ tự nhiên đó mà hành xử, mọi việc sẽ đâu vào đó. Ông cho rằng tất cả sự việc trên đời này đều là phù phiếm, hư không.
Ở Việt Nam, đạo Lão xâm nhập vào tầng lớp trí thức, nhất là các nho sĩ.Sau đó, Lão giáo vào tầng lớp bình dân và nó nghiêng về xu thế thần tiên, bí hiểm. Từ lâu, đạo Lão ở Việt Nam đã không còn là một tôn giáo cường thịnh như các đạo khác, nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn khá nặng nề trong nhân dân thông qua các hiện tượng như mê tín, dị đoan. Ngoài ra, nó còn xâm nhập vào các tôn giáo khác như Phật Giáo với sự hiện diện của các bộ tượng Ngọc Hoàng Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu trong các điện Phật. Đạo Cao Đài cũng coi đạo Lão là một trong ba hàng chức sắc thuộc ba ngành đạo được tôn thờ (Khổng giáo, Phật giáo và Đạo Lão).
3. Nho Giáo ra đời ở Trung Quốc từ hơn một ngàn năm trước Công Nguyên, nhưng chỉ đến khi có vai trò của Khổng Tử thì nó mới trở thành một hệ tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng đến các nước Phương Đông. Đó là một học thuyết chính trị chủ trương con người sống phải có trách nhiệm, thương yêu con người.
Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam.
Quá trình hình thành và phát triển
Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Học thuyết của đạo Nho
Nho giáo với thuyết thiên mệnh cho rằng vận mệnh của con người do mệnh trời chi phối, sự sang hèn thành bại không chỉ do người mà là do trời định sẳn.Nho giáo đề ra một xã hội bình đẳng về của cải vật chất, mọi người sống trong cảnh thái bình. Vua quan phài lấy dân làm gốc.
Đạo làm người là trọng tâm của nho giáo, đặc biệt là các vấn đề về Tam cương, Ngũ thường, Tam Tòng, Tứ đức...Điều đặc biệt là nho giáo để cao cái đạo của một người quân tử vì một người được gọi là quân tử thì phải là người có tri thức, hiểu được cái lẽ cao xa, cái ý chí tối thượng, là người đại diện cho tất cả mọi người nên quân tử thường đồng nghĩa với đại nhân, đại trượng phu.
Đức Khổng Phu Tử dạy người ta trọng: hiếu, để, trung, thứ, tu, tề, trị, bình. Hiếu để thờ cha mẹ, và lòng hòa thuận với anh em, trung để thờ vua cho hết long, thứ để ở với người đời trọn vẹn, biết nghĩ đến người, tu là chỉnh đốn tính nết của mình cho tốt đẹp hơn. Tề là tề gia, trị là đạo trị nước và cuối cùng bình là bình trị thiên hạ.
Về kinh sách thì có bộ lục kinh gồm Kinh Thi, Thư, Dịch, Nhạc, Lễ, Xuân Thu và bộ Tứ thư gồm Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử.
5. Hưng Đạo Vương: là danh tướng thời nhà Trần, có công lớn trong hai lần kháng chiến chống Nguyên Mông. Ông là tác giả của bộ Binh thư yếu lược(hay Binh gia diệu lý yếu lược) và Vạn Kiếp tông bí truyền thư (đã thất lạc). Ông còn được người dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên còn được gọi là Đức thánh Trần.Ông tên thật là Trần Quốc Tuấn, là con trai của An Sinh vương Trần Liễu
Ông vốn có tài quân sự, lại là tôn thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên - Mông tấn công Đại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận. Đặc biệt ở kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ. Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, đuổi quân Nguyên - Mông ra khỏi nước.
Sau khi kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3 thành công, ông về trí sĩ ở trang viên của mình tại Vạn Kiếp. Tuy nhiên, các vua Trần vẫn thường xuyên đến vấn kế sách.
Ông mất ngày 20 tháng 8 âm lịch năm Canh Tý, thọ khoảng 70 tuổi. Nhân dân đương thời lập đền thờ ông gọi là Đền Kiếp Bạc. Ông được tặng tước Thái sư thượng phụ thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.
Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép: "Lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: '[Người này] ngày sau có thể cứu n¬ước giúp đời'."
Khi lớn lên, ông có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc thông hiểu rộng, có tài văn võ. An Sinh vương Trần Liễu trước đây vốn có hiềm khích với Chiêu Lăng (tức vua Trần Thái Tông - Trần Cảnh), mang lòng hậm hực, tìm khắp những người tài nghệ để dạy Trần Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, An Sinh Vương cầm tay Trần Quốc Tuấn, trăng trối rằng: "Con không vì cha lấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được." Do An Sinh vương Trần Liễu lấy người chị của công chúa Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên công chúa, còn Trần Cảnh cưới Lý Chiêu Hoàng khi bà mới 7 tuổi. Sau này Lý Chiêu Hoàng không có con (khi chỉ mới 13 tuổi) nên Trần Thủ Độ bắt vợ của Trần Liễu lúc ấy có thai ba tháng về làm vợ Trần Cảnh (chị thay cho em). Chính vì lẽ đó mà Trần Liễu oán giận Trần Cảnh. Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.
Năm 4-5 tuổi, Trần Hưng Đạo theo cha là Khâm Minh Thái vương (tức Trần Liễu) đi Ái Châu, nơi giam cầm trọng tội. Trưởng công chúa Thụy Bà thương anh cả vô tội bị đầy, bèn năn nỉ anh kế là Thái Tông, xin nhận Trần Hưng Đạo làm con đem về Thăng Long nuôi dạy. Để tránh sự soi mói ghẻ lạnh của triều đình, Trần Hưng Đạo được trưởng công chúa Thụy Bà gửi tại chùa Phật Quang ( Thanh Oai, Hà Tây) nhờ trụ trì chùa dạy dỗ cho tới năm lên 10.
Cướp ngôi hay không
Đến khi vận nước lung lay, quyền quân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha trăng trối để dò ý hai gia nô thân tín là Dã Tượng và Yết Kiêu. Hai người gia nô bẩm rằng: "Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết già làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi".
Quyền phong tước
Vì có công lao lớn trong cả 3 lần chống nhà Nguyên nên vua gia phong ông là Thượng quốc công, cho phép ông được quyền phong tước cho người khác, từ minh tự trở xuống, chỉ có tước hầu thì phong tước rồi tâu sau. Nhưng Quốc Tuấn chưa bao giờ phong tước cho một người nào. Khi quân Nguyên vào cướp, Quốc Tuấn lệnh cho nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, mà cũng chỉ cho họ làm lang tướng giả chứ không cho họ tước lang thực, ông rất kính cẩn giữ tiết làm tôi
Tài dụng binh
Ông lại khéo tiến cử người tài giỏi cho đất nước, như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần của ông, có dự công dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô. Các người nổi tiếng khác như Phạm Ngũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đó về văn chương và chính sự, bởi vì ông có tài mưu lược, anh hùng, lại một lòng giữ gìn trung nghĩa vậy. Xem như khi Trần Thánh Tông vờ bảo Trần Quốc Tuấn rằng: "Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi". Trần Quốc Tuấn trả lời: "Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng". Vì thế, đời Trùng Hưng, lập nên công nghiệp hiếm có. Tiếng vang đến phương bắc, chúng thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi thẳng tên. Sau khi mất rồi, các châu huyện ở Lạng Giang hễ có tai nạn bệnh dịch, nhiều người cầu đảo ông. Còn có lời đồn rằng, mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn
Trần Quốc Tuấn từng soạn các sách như Binh gia diệu lý yếu lược (quen gọi là Binh thư yếu lược) và Vạn Kiếp tông bí truyền thư để dạy các tỳ tướng, dụ họ bằng bài Hịch tướng sĩ
Nhân dân Việt Nam vô cùng kính trọng ông do công lao hai lần lãnh đạo đất nước chống vó ngựa của Nguyên- Mông Trong cơn lốc chinh phục của họ, chỉ có Thái Lan (Sukhothai) thoát khỏi họa diệt vong nhờ sách lược cầu hòa, Nhật Bản may mắn nhờ một trận bão biển làm thiệt hại bớt tàu của Mông Cổ, và Đại Việt nhờ khả năng lãnh đạo của Hưng Đạo Đại Vương mà giữ được bờ cõi.
Mông Cổ không xâm chiếm được Ấn Độ, họ chỉ tiến được đến biên giới miền bắc Ấn ngày nay và bị chặn lại. Họ cũng chỉ vào được miền bắc Miến Điện trong một thời gian ngắn rồi phải rút lui. Ngoài Đại Việt đánh bại được đế chế Mông Cổ còn có Java (Indonesia), Ai Cập, Ấn Độ.Tháng 6 năm 1300, Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: "Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?"
Hưng Đạo Vương trả lời: "Ngày xưa Triệu Vũ Đế (tức Triệu Đà) dựng nước, vua nhà Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanh dã, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, Hồ Nam, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Dùng đoản binh chế trường trận là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy." Khi sắp mất, ông dặn con rằng: "Ta chết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườn An Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗ nào, lại phải làm sao cho mau phục".Trần Quốc Tuấn giữ Lạng Giang, quân Nguyên hai lần vào cướp, ông liên tiếp đánh bại chúng, sợ sau này có thể xảy ra tai họa đào mả chăng. Ông lo nghĩ tới việc sau khi mất lại là vì vậy.Mùa thu, tháng 8, ngày 20, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn mất ở phủ đệ Vạn Kiếp Đạo Đại Vương.Vua Trần Thánh Tông có soạn bài văn bia ở sinh từ của Trần Quốc Tuấn, ví ông với Thượng phụ (Lã Vọng ngày xưa bên Trung Quốc).Chân dung Trần Hưng Đạo trên tờ tiền 500 đồng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Sau khi mất, Trần Hưng Đạo được thờ phụng ở nhiều nơi, trong đó lễ hội lớn nhất ở đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay, nơi ngày xưa là phủ đệ của ông. Ông được người dân nhiều đời sùng kính phong Thánh tức là Đức thánh Trần, đây là điều hiếm hoi trong lịch sử chỉ dành riêng cho vị danh tướng nhà Trần. Ngày lễ chính thức được tổ chức vào ngày ông mất (20 tháng 8 âm lịch hàng năm). Nhân dân không gọi trực tiếp tên của ông mà gọi là Hưng Đạo Vương.
6.Văn Xương Đế Quân hay Văn Xương Đế Quân là vị thần được dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân.
Văn Xương là tên vì sao, cũng gọi là sao Văn Khúc (Văn Khúc tinh) hoặc sao Văn (Văn tinh). Người Trung Quốc thời xưa cho rằng đây là tinh tú nắm giữ công danh và văn vận của thế nhân.
Đạo Tạng Tập Yếu thu thập quyển Văn Xương Đế Quân Bản Truyện viết vào những năm Sùng Đức (1636–1648) đời Thanh (1644–1911). Trong đó ghi rằng:
"Văn Xương Đế Quân họ là Trương, húy là Thiện Huân, có những thần tích linh dị, phàm nhương tai khử họa đảo vũ cầu tự, hễ có thành tâm tất có ứng nghiệm, có thể trấn phục yêu ma tảo trừ dịch bệnh. Ngài được gọi là Văn Chương Tư Mệnh vì các giới quý tiện văn vũ y bốc sĩ nông công thương hễ có lòng mong cầu công danh đều trông cậy vào ngài. Ngài cư ngụ nơi cung Văn Xương nơi chòm sao Tử Vi, thường giáng cơ viết kinh, hiển mộng báo tin, phân thân ứng hóa, cứu độ nhân sinh."
Trong Tử Đồng Đế Quân Hóa Thư (do Đàm Tiễu viết đầu thế kỷ X) tóm lược 17 kiếp của Văn Xương Đế Quân, nhưng nội dung hết sức hoang đường. Có lẽ sáng tác này của đạo sĩ Đàm Tiễu muốn củng cố và chuyển tín ngưỡng Văn Xương Đế Quân từ một tín ngưỡng dân gian sang tín ngưỡng của ĐạoVăn Xương Đế Quân được dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là Thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân.
Văn Xương là tên vì sao, cũng gọi là sao Văn Khúc (Văn Khúc tinh hoặc Văn tinh). Người Trung quốc xưa cho rằng đây là tinh tú nắm giữ công danh và văn vận của thế nhân.Sự kiện Văn Xương Đế Quân được dân gian và Đạo giáo phụng thờ có liên quan đến thần Tử Đồng Trương Á Tử.
Trên núi Thất Khúc cũng có một miếu thờ thần Tử Đồng Trương Á Tử. Vì hai miếu gần nhau, người đời sau mới gọi chung hai thần là Trương Á Tử hoặc Trương Á Tử Sĩ Tấn chiến một (Trương Á Tử, quan đời Tấn, chết trong chiến tranh). Sự việc Trương Dục có chép trong Tấn Thư.Trong dân gian thường truyền nhau sự hiển linh thần dị của thần Tử Đồng Trương Á Tử.Thái Bình Hoàn Vũ Ký quyển 84 mục Kiếm Châu Tử Đồng huyện có trích dẫn Quận Quốc Chí rằng: (Xưa Ác Tử đến Trường An gặp Diêu Trường bảo rằng: 9 năm sau, người phải vào Thục, nếu đến núi Thất Khúc huyện Tử Đồng, may mắn thì tìm gặp ta).Diêu Trường đến núi Thất Khúc ở huyện Tử Đồng, gặp một thần nhân bảo rằng: Ngươi hãy sớm quay về Tần, Tần không có chủ, chẳng phải chủ ở nơi ngươi sao? Trường xin hỏi danh tánh, người đó đáp: Trương Ác Tử đây. Nói xong thì chẳng thấy người đó. Đến lúc Tần xưng đế, nơi nầy lập miếu Trương tướng công mà thờ).
Khi loạn An Lộc Sơn nổi lên, Đường Huyền Tông lánh nạn chạy vào đất Thục, trên đường đi ngang núi Thất Khúc, nghĩ đến Trương Á Tử anh liệt kháng Tiền Tần, bèn dừng chân vái lạy. Tương truyền khi tá túc núi Thất Khúc, Huyền Tông mộng thấy Trương Á Tử hiển linh mách rằng, không bao lâu nữa, Huyền Tông sẽ trở thành Thái Thượng Hoàng. Hiện nay trên núi Thất Khúc còn dấu tích "Ứng mộng tiên đài" của Đường Huyền Tông.
Năm Quảng Minh thứ 2 đời Đường, Hy Tông lánh loạn Hoàng Sào vào Thục, đi ngang núi Thất Khúc cũng vào vái lạy, truy phong Trương Á Tử là Tế Thuận Vương và cởi bội kiếm tặng cho Thần.
Thần Tử Đồng Trương Á Tử vì được các vua Đường sùng bái, thanh danh lan truyền xa, từ một vị Thần địa phương trở thành một đại thần khắp Trung quốc.
Năm Hàm Bình thứ 3 (1000) triều vua Tống Chân Tông (trị vì 998-1023) (Bắc Tống), Đô Ngu Hầu ở Ích Châu là Vương Quân nổi loạn, thần Tử Đồng linh hiển trợ giúp vua diệt quân phiến loạn. Tống Chân Tông bèn sắc phong Trương Á Tử là Anh Hiển Vũ Liệt Vương, đồng thời cho tu bổ miếu thờ.
Đời Nam Tống, năm Thiệu Hưng thứ 10 (1140), vua Tống Cao Tông (trị vì 1127-1162) cho đại tu Tử Đồng Thần miếu và sắc phong miếu thờ là Linh Ứng Từ.
Vua Tống Quang Tông (trị vì 1190-1194) truy phong Trương Á Tử là Trung Văn Nhân Vũ Hiếu Đức Thánh Liệt Vương. Tống Lý Tông (trị vì 1225-1264) truy phong Trương Á Tử là Thần Văn Thánh Võ Hiếu Đức Trung Nhơn Vương.
Đời Nguyên, năm Diên Hựu thứ 3 (1316), vua Nhân Tông (trị vì 1312-1320) sắc phong Trương Á Tử là Phụ Nguyên Khai Hóa Văn Xương Tư Lộc Hoằng Nhơn Đế Quân và khâm định là Trung Quốc Hiếu Gia Ích Dân Chính Trực Thần.
Kể từ đó, thần Tử Đồng và sao Văn Xương được hợp nhất thành một danh xưng là Văn Xương Đế Quân.
Từ đời Tống rất thịnh hành vô số câu chuyện linh dị kể lại thần Tử Đồng hiển linh phù hộ các sĩ tử thi đậu làm quan, cho nên việc phụng thờ Ngài càng thêm thịnh.
Đời Nam Tống, Ngô Tự Mục trong quyển Mộng Lương Lục thứ 14 chép rằng Tử Đồng Đế Quân tại đạo quán Thừa Thiên ở Ngô Sơn là thần nước Thục, chuyên nắm giữ lộc tịch (sổ sách về quan lộc) của con người, nói chung các sĩ tử bốn phương đi thi cầu danh đều xin Ngài ban phúc. Ngài được phong là Huệ Văn Trung Vũ Hiếu Đức Nhân Thánh Vương (Tử Đồng Đế Quân tại Ngô Sơn Thừa Thiên quán, thử Thục trung thần, chuyên chưởng lộc tịch, phàm tứ phương sĩ tử cầu danh phó tuyển giả tất đảo chi. Phong vương tước viết Huệ Văn Trung Vũ Hiếu Đức Nhân Thánh Vương).
Cuối đời Nam Tống, các châu và phủ đều lập nhiều miếu thờ Tử Đồng Đế Quân. Như vậy, những tượng thờ Văn Xương Đế Quân trong các chùa miếu và đạo quán ngày nay tức là tượng Tử Đồng Đế Quân.
Đạo giáo đã sớm có tín ngưỡng Văn Xương, trong Lão Quân Âm Tụng Giới Kinh chép: Đương giản trạch chủng dân, lục danh Văn Xương cung trung. (Phụ trách tuyển chọn phẩm hạng dân chúng, ghi danh vào cung Văn Xương).
Đến đời Nguyên (1279-1368) và đời Minh (1368-1644) các đạo sĩ lợi dụng tín ngưỡng dân gian về Văn Xương Đế Quân mà viết ra "Thanh Hà Nội Truyện" và "Tử Đồng Đế Quân Hóa Thư" kể lại những thần tích của Văn Xương Đế Quân.
Sách viết rằng:
"Văn Xương Đế Quân vốn sanh đầu đời Chu (Châu), đã trải 73 kiếp hóa thân, từng là sĩ đại phu. Cuối đời Tây Tấn, Ngài giáng sanh nơi đất Thục tên là Á, họ là Trương, tự là Bái Phu, được lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế cho chưởng quản Văn Xương Phủ và lộc tịch (sổ sách về quan lộc) của nhân gian."
Trong Tử Đồng Đế Quân Hóa Thư (do Đàm Tiễu viết đầu thế kỷ thứ 10) tóm lược 17 kiếp của Văn Xương Đế Quân nhưng nội dung hết sức hoang đường. Có lẽ sáng tác nầy của đạo sĩ Đàm Tiễu muốn củng cố và chuyển tín ngưỡng Văn Xương Đế Quân từ một tín ngưỡng dân gian sang tín ngưỡng của Đạo giáo.
Trong Đạo Tạng và Đạo Tạng Tập Yếu thu thập rất nhiều kinh sách do Văn Xương Đế Quân giáng cơ bút, trong đó thịnh hành nhứt kể từ đời Tống và đời Nguyên là Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn. Tác phẩm nầy tuyên xưng: Văn Xương Đế Quân cứu dân chi nạn, tế nhân chi cấp, mẫn nhân chi cô, dung nhân chi quá, quảng hành âm chất, thượng cách thương khung. (Văn Xương Đế Quân cứu nạn dân chúng, giúp người trong khốn khó nguy cấp, xót thương kẻ bơ vơ, khoan dung lỗi lầm của thế nhân, [ai] thi hành rộng khắp âm chất được đặc cách lên trời [ghi vật lợi nhân, tu thiện tu phúc, chính trực đại thiên hành hóa, từ tường vị quốc cứu dân, trung chủ hiếu thân, kính huynh tín hữu. Hoặc phụng Chân triều đẩu, hoặc bái Phật niệm kinh, báo đáp tứ ân, quảng hành Tam giáo." (Thường thi hành tiện ích, tạo vô vàn công đức vô hình, ích lợi cho người cho vật, tu thiện tu phúc, chính trực thay Trời hành hóa đạo đức, từ ái vì nước cứu dân, trung vua hiếu cha mẹ, kính trọng huynh trưởng, tin cậy bằng hữu. Hoặc thờ Tiên tu đạo, hoặc bái Phật niệm kinh, để báo đáp bốn ân và quảng hành Tam giáo). Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn là một trong tam đại khuyến thiện thư của Đạo giáo, có ảnh hưởng rất lớn trong dân gian.
Từ đời Nguyên và đời Minh về sau, các địa phương ở Trung quốc kiến tạo rất nhiều cung và đền miếu thờ Văn Xương Đế Quân (gọi là Văn Xương Cung, Văn Xương Từ, Văn Xương Các) nguy nga, hiện nay vẫn còn.
Tại Việt Nam, Văn Xương Đế Quân được thờ trong đền Ngọc Sơn nơi Hồ Hoàn Kiếm Hà Nội kể từ khi đền được trùng tu năm Thiệu Trị thứ nhứt (1841), ngoài ra Ngài còn được thờ trong các ngôi chùa miếu của người Hoa. Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 2 âm lịch làm ngày vía Đức Văn Xương Đế Quân.
Khi Văn Xương Đế Quân du hành, tùy tòng có Huyền Đồng Tử (Thiên lung: trời điếc) và Địa mẫu (Địa á: đất câm). Hai tùy tòng có nhiệm vụ biệt lập về hành chánh, phụ giúp Văn Xương Đế Quân. Để giữ công bình và bí mật, Thiên lung không thể lắng nghe những lời van xin cầu khẩn của thế nhân, Địa á không thể tiết lộ cho họ những dự định của Đế Quân."
7. Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp quận Đống
Đa, phía Tây Bắc giáp quận Ba Đình và quận Đống Đa, phía Nam giáp quận Hai Bà Trưng
Dọc từ phía Bắc xuống phía Nam là sông Hồng, bên kia sông (phía Đông) là huyện Gia Lâm. Quận tập trung nhiều đầu mối giao thông đường sắt, đường thuỷ, đường bộ. Yếu tố này đã gắn kết Hoàn Kiếm với các quận, các tỉnh, thành khác tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy giao lưu phát triển kinh tế - văn hoá và du lịch. Đó là một ưu thế đặc biệt của Quận mà không phải quận nào cũng có thể có được.
Là nơi tập trung nhiều Bộ, Sở, Ban, ngành và các cơ quan quản lý Nhà nước (10 Bộ trong tổng số 17 Bộ của Trung ương đóng trên địa bàn toàn Thành phố Hà Nội) và cũng là nơi tập trung của nhiều đại sứ quán và nhà riêng đại sứ (17 đại sứ trong tổng số 60 nước có đại sứ quán tại Hà Nội), các văn phòng đại diện nước ngoài, nơi tập trung của các cơ quan chính trị - xã hội - tôn giáo, Hoàn Kiếm xứng đáng là trung tâm hành chính, chính trị của Thành phố.
Với chợ Đồng Xuân - một khu thương mại và dịch vụ lớn, là đầu mối giao lưu hàng hoá của cả khu vực phía Bắc cùng với một loạt chợ lớn như: Hàng Da, Cửa Nam, Hàng Bè và những tuyến phố thương mại sầm uất như Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào..., Hoàn Kiếm đã và đang trở thành trung tâm thương mại lớn của Thủ đô Hà Nội.
Chợ đêm Đồng Xuân - một hình thức dịch vụ thương mại mới - tuy đang trong giai đoạn hình thành nhưng nếu phát huy có hiệu quả thì không những khẳng định vị trí trung tâm thương mại của Hoàn Kiếm mà còn là một nhân tố thu hút khách du lịch.
Thời gian gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là sự đầu tư mạnh mẽ trong xây dựng các công trình cao ốc, các toà văn phòng nổi tiếng như Hà Nội Tower. Đó là lợi thế về vị trí địa lý mà không quận nào có thể có được. Các cơ quan, đơn vị đều muốn có văn phòng đặt trên địa bàn Quận. Chính vì vậy, Hoàn Kiếm phát triển rất mạnh dịch vụ cho thuê văn phòng và là Quận có nhiều tiềm năng nhất để phát triển loại hình dịch vụ cao cấp này. Điều đó tạo cho Hoàn Kiếm một bộ mặt mới, văn minh bên cạnh những công trình kiến trúc cổ, đồng thời khẳng định vị thế trung tâm dịch vụ của Quận.
Với hệ thống các trung tâm tài chính, ngân hàng đầu não tập trung tại Quận, Hoàn Kiếm có tiềm năng phát triển mạnh các giao dịch về kinh tế tài chính. Trong 10 năm tới, trên cơ sở Nhà nước đổi mới chính sách tài chính ngân hàng và sự phát triển của các thành phần kinh tế, Hoàn Kiếm sẽ trở thành trung tâm tài chính lớn của Hà Nội. Đây chính là một loại hình dịch vụ cao cấp- một hình thức dịch vụ dựa trên trí thức vàdựa trên sự tiến bộ, văn minh của nền kinh tế.
Ở vị trí trung tâm Thành phố với vai trò trung tâm hành chính, chính trị, trung tâm thương mại, dịch vụ, quận Hoàn Kiếm có nhiều điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội.
2- Địa hình: Quận Hoàn Kiếm nằm trong khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng, thoải dần từ Đông sang Tây và từ Bắc xuống Nam. Cao độ cao nhất là 11,0m và thấp nhất là 6,5m. Qua nhiều năm xây dựng, địa hình đã được bồi nền nhân tạo cao thêm 1¸2 m so với địa hình tự nhiên ban đầu
3- Khí hậu: Quận Hoàn Kiếm có điều kiện khí hậu chung của Thành phố Hà Nội, một năm chia thành 2 mùa rõ rệt. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình cao nhất là 38C, mưa tập trung nhiều từ tháng 7 đến tháng 9. Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình thấp nhất từ 8C đến 10C.Độ ẩm trung bình trong năm: 84,5%.
4- Lịch sử hình thành và phát triển.
Quận Hoàn Kiếm luôn là trung tâm của Hà Nội và của Việt Nam, được hình thành cách đây gần 1000 năm, có một bề dày lịch sử phát triển.
Khu phố cổ (36 phố phường) được hình thành từ đầu thế kỷ XIX thuộc Triều Nguyễn. Cùng với việc xây dựng Hoàng Thành, Kinh Thành, nhiều đình, đền, chùa...được xây dựng như: đình Kim Ngân, chùa Báo Ân, Báo Thiên, đền Vua Lê, Ngọc Sơn, Bà Triệu...
Từ năm 1886, quận Hoàn Kiếm được phát triển về phía Nam hồ Hoàn Kiếm theo kiểu khu phố của người Châu Âu, với hệ thống bàn cờ được hoạch định trước. Đây là một giai đoạn phát triển mới, mang phong cách xây dựng đô thị Châu Âu với nhiều công trình kiến trúc có sắc thái riêng mang nhiều đường nét kiến trúc Pháp.
Từ năm 1955, đặc biệt là sau năm 1975, việc xây dựng phát triển của quận Hoàn Kiếm đẩy mạnh ra phía ngoài đê, các khu nhà ở tập thể của các cơ quan được hình thành.
Do sự hình thành các khu vực theo từng giai đoạn như vậy, quận Hoàn Kiếm được phân rất rõ ràng với đặc điểm của từng giai đoạn lịch sử:
- Khu phố cổ: gồm các phường Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Đào, Cửa Đông, Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Gai, Đồng Xuân và một phần của hai phường Lý Thái Tổ và Hàng Bông. Các công trình chủ yếu là nhà ở kết hợp với cửa hàng, mật độ xây dựng cao, đường giao thông nhỏ và ngắn.
- Khu phố cũ: gồm các phường Cửa Nam, Trần Hưng Đạo, Phan Chu Trinh, Tràng Tiền, Lý Thái Tổ, Hàng Bông, Hàng Trống, Hàng Bài. Nhiều loại công trình hình thức kiến trúc đẹp: nhà ở biệt thự, công sở, nhà hát, cửa hàng, khách sạn, bảo tàng, thư viện...
- Khu ngoài đê: gồm 2 phường Phúc Tân và Chương Dương, công trình chủ yếu là nhà ở của dân lao động, xây dựng manh mún, chắp vá, không có qui hoạch.
Bề dày lịch sử hình thành và phát triển với sự tập trung của các khu phố cổ là một đặc thù riêng có của quận Hoàn Kiếm, tạo cho Quận một thế mạnh trong phát triển dịch vụ, đặc biệt là trong phát triển thương mại, du lịch.
11.Quận Hoàn Kiếm
Quận Hoàn Kiếm nổi tiếng với Hồ Gươm "viên ngọc quý của Thủ đô" một danh thắng, di tích quan trọng mang nhiều dấu ấn lịch sử. Không những thế, với 130.000 m2 mặt nước và 32.250 m2 diện tích cây xanh ven hồ ở giữa trung tâm Thủ đô, Hồ Gươm còn là một cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và là hồ điều hoà của trung tâm Hà Nội. Cùng với Hồ Gươm, không thể không kể đến những tài nguyên sinh tạo, với những vườn hoa lớn, đã tạo nên vẻ đẹp của Thủ đô và tăng thêm tính hấp dẫn của du lịch sinh thái - văn hoá
8.Tượng đài Lý Thái Tổ, cụ tổ quy hoạch xây dựng Việt Nam, sáng lập chốn “đế vương muôn đời” Thăng Long - Hà Nội. Tượng đồng cao 1010 cm, ứng với con số 10-10 ngày Giải phóng Thủ đô, cũng là năm lập đô 1010. Tượng đứng giữa vườn, nhìn ra hồ, có rồng đá phù trợ.
9. Câu chuyện Th áp bút- Đài Nghiên:
Cứ sáng ngày mùng 5 tháng 5 Âm lịch khi mặt trời mọc thì bóng của ngòi bút chấm đúng vào lòng Nghiên mực. Trong thực tế, không bao giờ có sự kiện thiên văn ấy. Vì mặt trời chuyển động trên vòm trời, tức là chuyển động biểu kiến, được 1 vòng mất 365,2422 ngày. Một năm Dương có 365 hoặc 366 ngày, tùy theo năm đó là năm nhuận hay không nhuận. Một năm lịch Âm, nếu là năm thường có 354 ngày hay 355 ngày; còn nếu là năm nhuận thì có 383 hay 384 ngày. Nếu như lúc mặt trời mọc, đỉnh ngọn Bút Tháp mà chấm đúng vào giữa lòng nghiên mực vào một ngày nào đó, thì phải đúng một năm Dương sau, hiện tượng đó mới lặp lại, và một năm sau nữa mới lại như vậy. Cái nghiên mực cũng rộng, nên việc đó có thể lệch đi một hay hai ngày, nhưng không thể lệch đi 1 tháng. Bởi thế, việc đó nếu xảy ra vào một ngày cố định trong năm thì chỉ có thể theo lịch Dương vì độ dài các năm khác nhau 1 ngày, không thể theo lịch Âm vì độ dài các năm có thể khác nhau đến 1 tháng (29 hay 30 ngày). Và như vậy không thể nào có hiện tượng cứ mùng 5 tháng 5 lịch Âm mặt trời lại chiếu dọi đỉnh ngọn Bút Tháp vào đúng lòng nghiên đá được. Cho nên chỉ có thể coi đây là chuyện "nói trạng" mà thôi.
10. Nguyễn Văn Siêu quê ở làng Kim Lũ, Thanh Trì - Hà Nội. Năm hai mươi sáu tuổi, ông lều chõng đi thi, đỗ Á nguyên, nhưng không ra làm quan, ở nhà đọc sách và dạy trẻ. Ông kết thân bạn tâm giao với Cao Bá Quát, kém ông 10 tuổi. Hai người thường đối đáp văn chương rất giỏi nên được gọi là thần Siêu - thánh Quát. Năm 1839, hai ông khăn gói vào Huế thi Hội. Cao Bá Quát thi hỏng (vì chữ xấu, nhưng người ta bảo ông nói thẳng làm phật ý vua Minh Mạng). Nguyễn Văn Siêu đỗ phó bảng, được bổ làm chủ sự bộ lễ, sau được thăng viên ngoại lang. Thiệu Trị nối ngôi, biết tài "thần Siêu" nên chuyển vào nội các làm Thừa chỉ, kiêm dạy các hoàng tử Hồng Bảo, Hồng Nhậm… Năm 1847 Hồng Nhậm lên ngôi (Tự Đức). Năm 1849, ông Siêu được cử đi sứ nhà Thanh. Tự Đức dặn: "Khanh học vấn uyên bác, đi chuyến này sang sứ, xem xét núi sông, phong tục, ghi chép kỹ, khi về tiến lãm".
Về nước năm 1850, thần Siêu dâng quyển "Vạn lý tập dịch trình tấu thảo" được phong Học sĩ ở viện tập hiền. Năm sau ông ra làm án sát Hà Tĩnh, rồi án sát Hưng Yên kiêm chức tuần phủ. Dân chúng đói khổ, vỡ đê, lụt lội, ông gửi về Tự Đức một sớ điều trần. Không hợp ý vua, ông bị giáng chức. Năm 1854, ông đệ sớ từ quan, về sống ở Hà Nội, dạy học và soạn sách…
Cao Bá Quát không chịu đựng nổi cảnh vào luồn ra cúi dưới mái nhà thấp của cung đình Huế thời Tự Đức nên cũng từ quan về Sơn Tây, cùng dân chống lại triều đình. Thánh Quát chết, thần Siêu khóc họ Cao, thẹn cho mình
Vì vậy ông đã dứng ra sửa sang ngôi đền Ngọc Sơn, bắc lại nhịp cầu Thê Húc, đắp núi Độc Tôn và xây trên đó ngọn Tháp Bút 5 tầng, ngòi bút nhọn vươn thẳng lên trời cao, thênh thang chạm tới mặt trời, trăng sao, vũ trụ, với ba chữ "Tả Thanh Thiên" (tức là viết lên trời xanh). Ba chữ đó như một sự thách đố cung đình. Nó khẳng định học vấn và trí tuệ sẽ dẫn con người vươn tới hạnh phúc, áo cơm, độc lập tự cường, dân chủ - văn minh
nick:loihenuo_mautim

