Khi có dịp đến thăm hoặc đi ngang qua vùng có người Khmer sinh sống, đặc điểm nổi bật để ta nhận biết đó là mái chùa. Cho dù vùng đất bạn đi qua có nghèo đến đâu thì từ xa bạn cũng sẽ nhìn thấy mái chùa cao vút, uy nghi, lộng lẫy nằm ẩn hiện trong khu vườn rừng cây sao, dầu. Từ ngàn đời nay, ngôi chùa đã trở thành chổ dựa tinh thần của người Khmer. Như vậy thì ngôi chùa có ý nghĩa quan trọng với người Khmer nhưng quan trọng đến mức nào và ý nghĩa của ngôi chùa ra sao thì loạt bài này sẽ là lời giải đáp phần nào cho những ai quan tâm.
Ngày hôm nay, STO khởi đăng loạt bài này nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu về ý nghĩa của những ngôi chùa Khmer Nam Bộ của những bạn sinh viên đang học tập tại thành phố Hồ Chí Minh. Loạt bài này do ông Trần Văn Bổn - một nhà Khmer Học người Sóc Trăng đang sinh sống tại ấp Tập Rèn, Huyện Kế Sách, Tỉnh Sóc Trăng biên soạn. Chúng tôi chân thành cảm tạ tấm lòng của ông Trần Văn Bổn khi ông cung cấp những tài liệu này cho STO.
Mái Chùa - Không Gian Thiêng Liêng Phật Giáo Khmer Nam Bộ
Phần một: Nét Khái quát
Với lẽ sống "đời là đạo, đạo là đời", đối với người Khmer, chùa là không gian thiêng liêng duy nhất. Chùa là nơi tập trung khả năng kinh tế, xã hội, đặc điểm văn hóa nghệ thuật và quan điểm thiêng liêng của cộng đồng phum sóc. Ở Sóc Trăng hiện nay có cả thảy 89 ngôi chùa Khmer lớn nhỏ.
Ngôi chùa có mặt ở phum sóc từ rất sớm. Đến vùng bà con dân tộc Khmer sinh sống, ấn tượng đầu tiên là những mái chùa cong vút, ẩn mình dưới hàng cây sao, cây dầu. Người Khmer theo phật giáo tiểu thừa nên họ rất sùng bái, trọng vọng ngôi chùa và các vị sư sãi như chính gia đình thân thiết của mình; bởi lẽ họ quan niệm cuộc sống trần gian chỉ là "tạm bợ", "phía bên kia" mới là cõi Niết Bàn và ngôi chùa chính là trung gian.
Có những ngôi chùa được xây dựng từ trước thế kỷ 16 nhưng cũng có những ngôi chùa được xây dựng hoặc trùng tu trong thế kỷ 20. Tuy có sự khác nhau khá xa về niên đại nhưng vẫn có những nét đặc trưng chung. Đó là sự đồ sộ, uy nghi với nét đặc thù rất tiêu biểu cho lối kiến trúc Khmer truyền thống. Có thể nói, nơi nào có đồng bào Khmer cư trú thì nơi đó có chùa. Ngôi chùa không chỉ là nơi tu hành của các vị sư mà còn là trung tâm sinh hoạt của cộng đồng, thu hút mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi cùng nhau tiến hành các lễ nghi, sinh hoạt văn hóa, giáo dục. Vì vậy, đối với người Khmer, ngôi chùa tự bao đời nay đã là một thực thể gắn liền với cuộc sống của người dân như hình với bóng. Chính đặ điểm này đã chi phối gần như toàn bộ đời sống vật chất và tâm linh của bà con Khmer. Hơn thế nữa, ngôi chùa còn là một công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ cao.

Phần hai: Ngôi chùa là không gian thiêng liêng duy nhất
Người Khmer, không-gian-thiêng-liêng-cộng-đồng duy nhất thể hiện ở các ngôi chùa. Mỗi phum sóc có ít nhất một ngôi chùa. Ngôi chùa Khmer là một thiết chế cộng đồng tương tự như ngôi đình làng của người Kinh, ngôi nhà chung của bà con các dân tộc sống ở Tây Nguyên. Trong đời sống tâm linh, người Khmer gắm bó vô cùng chặt chẽ với hoạt động của ngôi chùa. Có thể nói ngôi chùa có vị trí quan trọng vào bậc nhất trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng bà con Khmer. Vì thế, mặc dù đời sống vật chất có lúc túng thiếu, phải ở trong ngôi nhà lá đơn sơ tạm bợ nhưng người Khmer vẫn tự nguyện đóng góp để xây dựng ngôi chùa của mình thật khang trang lộng lẫy. Được đóng góp xây dựng chùa, mỗi người Khmer cho đó là "khoán ước đảm bảo hạnh phúc cho cuộc sống hiện tại và cho cuộc đời ở thế giới vĩnh hằng mai sau". Bởi thế họ không tiếc công, tiếc của để xây dựng chùa.
Ngôi chùa được xây trên một khu đất rộng, cao ráo. Từ xa, người ta đã có thể trông thấy chùa với mái ngói cong vút, ẩn hiện trong hàng cây dầu, cây sao. Nó không chỉ đẹp vì phong cách riêng độc đáo mà tự nó còn làm cho phong cảnh phum sóc trở nên có ý nghĩa. Theo quan niệm người Khmer, cây dầu, cây sao biểu tượng cho sự trường tồn vĩnh cửu; một năm thay lá một lần, thiêng liêng như cuộc đời luân hồi theo quan niệm nhà Phật. Không khí xung quanh thường tĩnh lặng, trầm mặc, hoang dã làm tăng thêm vẻ tôn nghiêm, trầm ảo. Ngày thường, chùa vắng lặng bao nhiêu thì ngày lễ, Tết tưng bừng bấy nhiêu
Phần 3: Nguyên tắc & các luật lệ xây dựng chùa
Việc xây chùa rất công phu và tốn kém, bao giờ cũng phải theo những nguyên tắc và quy định cổ truyền nhưng nó không bị lệ thuộc vào thuyết phong thủy của Trung Quốc.
Đầu tiên là việc chọn địa điểm. Đó là khoảng đất trống, rộng rãi, cao ráo; thường thường là nằm ở ngay trung tâm phum sóc. Trước khi xây dựng, người ta phải cúng kiến Neakta phum, xin thần che chở cho việc diễn ra tốt lành. Sau khi chọn được ngày giờ tốt, người ta bắt đầu khởi công.
Công trình xây dựng đầu tiên là Sala - nhà ăn của sư sãi, cũng là nhà họp và đón tiếp khách thập phương, trong đó có bàn thờ Phật. Tiếp đó là "Chêt đây" ( ngôi thấp) đựng hài cốt. Người Khmer quan niệm rằng "nắm xương tàn phải được gởi vào đất Phật, tức ngôi chùa để mau thoát kiếp luân hồi đau khổ. Vì thế mà ngôi tháp sớm được dựng lên.
Ngôi tháp có kiến trúc đặc biệt, có kích thước lớn nhỏ khác nhau, dựng ở xung quanh chánh điện. Kiến trúc của tháp thường giống nhau, gồm 3 phần:
Chân tháp rộng hình vuông, có một lỗ nhỏ để hài cốt người chết.
Thân tháp có nhiều tầng, nhỏ dần từ dưới lên trên.
Đầu tháp là một mũi nhọn, trên đỉnh có gắn tượng đầu thần bốn mặt ( Prum muk buôl). Phía trên đầu tượng là một cột sắt nhỏ, nhọn có lộng che.
Đầu thần bốn mặt liên quan đến một truyền thuyết, gắn với một nghi lễ chính của tết Chôl Chnam Thmey. Nội dung câu truyện nói đến đề tài thuyết pháp của Thoma-bal - biểu tượng của Phật giáo đã thắng vị thần Môha-Prum - biểu tượng Bà La Môn Giáo. Vì thua cuộc và để giữ lời cam kết, thần Môha-Prum phải tự cắt đầu. Lễ rước đầu thần "4 mặt" - kẻ chiến bại vào đầu năm mới có ý nghĩa nhắc nhở mọi người, từ đây Phật giáo đã thắng Bà La Môn Giáo. Ngoài ra còn có ý nghĩa khác, thâm thúy và cao siêu hơn: "bốn mặt nhìn ra bốn hướng tượng trưng cho Prum Vihear Tho ( từ, bi, hỷ, xả).
1. Từ (Mêta) làm cho lòng ta êm dịu, là lòng ước mong cho tất cả chúng sanh đều được sống an lành, vui vẻ. Nói một cách cụ thể hơn là lòng mong mỏi chân thành của một người bạn hiền, thành thật muốn cho bằng hữu được an vui hạnh phúc. Nói "Mêta", đức Phật ám chỉ vào sự mong mỏi thành thật của bà mẹ hiền mong muốn đứa con mình được sống an lành. Phạm vi hoạt động của tâm từ là không bờ bến. Nhờ tâm từ mà ta có thể xem tất cả chúng sanh là bạn hữu, và khắp nơi trên thế giới như chổ chôn nhau cắt rốn của mình. "Từ" tựa hồ như ánh sáng mặt trời bao trùm vạn vật. Tâm từ cao thượng rải khắp đồng đều, phước linh thâm diệu cho mọi người, thân cũng như sơ bạn cũng như thù, giàu nghèo, nam nữ như nhau. Đức Phật dạy rằng: " không thể lấy thù oán mà diệt sân hận. Chỉ có tâm từ mới dập tắt được lòng sân. Người có tâm từ không khi nào nghĩ đến làm hại ai, làm giảm giá trị hoặc bài xích ai; không bao giờ sợ ai, cũng không bao giờ làm ai sợ. Tâm từ đem lại nhiều quả phúc:
- Người có tâm từ luôn ngủ an vui, ngủ với tâm trạng thơi thới, không giận hờn, không lo sợ; tự nhiên giấc ngủ sẽ đến rất dễ dàng.
- Người có tâm từ đối với kẻ khác sẽ gặt hái được những tình cảm ưu đãi.
Ví dụ: Khi nhìn vào gương, nếu mặt ta vui vẻ, hiền lành, hình ảnh sẽ là vui vẻ. Trái lại, nếu mặt ta cau có, quạu quọ thì hình ảnh trong gương cũng sẽ cau có, quạu quọ.
- Người có tâm từ, đến lúc chết cũng đựoc an vui vì trong lòng không chứa chấp mối sân hận. Sau khi tắt thở, gương mặt tươi tỉnh ấy phản ánh sự ra đi vui vẻ. "Chết an vui thì người có tâm từ sẽ tái sinh vào cảnh tốt đẹp".
2. Bi (Karôna) là động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác, là cái gì thoa dịu sự đau khổ của con người. Đặc tính của tâm bi là ý muốn giúp ngoài khác thoát khỏi cảnh khổ. Chính do tâm bi mà con người hoàn thoàn vị tha trong khi phục vụ. Người có tâm bi không sống cho mình mà sống cho kẻ khác và luôn luôn tìm cơ hội để giúp đời nhưng không bao giờ nhận đền ơn đáp nghĩa. Lòng của người có tâm bi thật là mềm dịu. Ngày nào chưa cứu giúp được người khác thì tâm chưa thỏa mãn. Lắm khi để làm êm dịu sự đau khổ của người khác, người có tâm bi không ngần ngại hy sinh đến cả tánh mạng mình.
Đối tượng của tâm bi là gì? Đó là kẻ nghèo nàn, dốt nát, hư hỏng... Như đức Phật hết lòng thương hại và cứu độ nàng Am Pali, là người phụ nữ lạc bước giang hồ và ngài đã tận tâm tế độ ông Angu Limala là tên sát nhân toan ám hại ngài.
3. Hỷ (Mututa) là vui nhưng ở đây không phải là trạng thái thỏa thích mà là lòng vui thích trứoc hạnh phúc kẻ khác, trước sự thành công của mọi chúng sanh. Lòng ganh tị là kẻ thù trực tiếp của tâm hỷ. Chính lòng ganh tỵ đã thúc đẩy con người làm nhiều điều vô cùng độc ác.
Thí dụ: tên Đa Sôvatha, vì ganh tỵ với đức Phật đã lăn đá gây thương tích cho người.
Nếu so sánh với tâm từ, tâm bi thì tâm hỷ lại càng khó thực hiện hơn. Muốn có tâm hỷ thì phải có ý chí mạnh mẽ và hết sức cố gắng. Người phật tử nên thực hành tâm hỷ trong đời sống cá nhân cũng như tập thể để tạo an vui hạnh phúc và vươn mình lên để sống trong sạch, cao thượng.
4. Xả (Upêkha) là trông thấy đúng đắn, nhận định chân chính, tức là không thương cũng không ghét bỏ, không ưa thích cũng không bất mãn. Được - thua, thành - bại, ca tụng - khiển trách là những việc xảy ra trong đời sống làm xúc động con người. Được ca tụng thì vui thích, bị khiển trách thì buồn bã; đó là lẽ thường tình. Nhưng giữa cuộc thăng trầm của thế sự, đức Phật dạy ta luôn luôn thản nhiên như tảng đá to sừng sững giữa trời. Kinh Jataka chép: "trong hạnh phúc, trong phiền não, lúc thăng trầm ta phải giữ tâm như đất. Cũng như trên đất, ta có thể vứt bỏ bất luận vật gì dầu sạch, dầu dơ đất vẫn thản nhiên...".
Ví dụ: Ngày kia khi đức Phật đi trì bình khất thực thì có một đạo sĩ Bà La Môn giáo bảo ngài là cùng đinh và đối xử với ngài rất vô lễ. Ngài thản nhiên chịu đựng và ôn tồn giải thích cho đạo sĩ biết thế nào là người cùng đinh và vì sao không nên khinh rẻ người tu hành.
Tượng thần Bốn Mặt còn có ý nghĩa cầu xin cho người chết có hài cốt trong tháp hãy đầu thai ở kiếp khác; hoặc những người còn sống hãy sống sao cho đúng với tinh thần phật giáo là "Từ, Bi, Hỷ, Xả"
